Gởi Bài Đăng Trang Chủ Chương Trình Phát Thanh Pháp Âm Quà Tặng Âm Nhạc Gởi Thiệp Điện Tử Hình Ảnh Sinh Hoạt Vài Dòng Lưu Niệm Phim Truyện Phật Giáo và Phim Lễ Hội Tu Viện Hương Nghiêm Web Master
  Đức Phật dạy :  Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng; Quá khứ đã đoạn diệt, Tương lai thì chưa đến; Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây; Không động không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập
      Giới Thiệu
      Tin Tức Sinh Hoạt
      Kinh Tạng
      Luật Tạng
      Luận Tạng
      Phật Học Căn Bản
      Tư Tưởng Phật Học
      Lịch Sử Phật Giáo
      Thiền Học Phật Giáo
      Triết Học Phật Giáo
      Văn Học Phật Giáo
      Giáo Dục Phật Giáo
      Nghi Lễ Phật Giáo
      Từ Bi Foundation
      GĐPT Huyền Quang
      Truyên Phật Giáo
Thống Kê:
 
----! Hiện Tại !----
    Có       Thể Loại
    Và       Chủ Đề
  
Nhập Từ khóa cần tìm:
Xin nhập Tiếng Việt đã có sẳn:
    
Tin Cập Nhật
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 3 THÁNG 7, 2014)
MỪNG NGÀY KHÁNH TUẾ VÀ LỄ AN VỊ TÔN TƯỢNG BỒ TÁT ĐỊA TẠNG TẠI TRƯỜNG HẠ PHỔ ĐÀ SƠN TU VIỆN
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 2 THÁNG 7, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 1 THÁNG 7, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 3 THÁNG 6, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 2 THÁNG 6, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI(TUẦN THỨ 1 THÁNG 6, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 4 THÁNG 5, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 3 THÁNG 5, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 2 THÁNG 5, 2014)
Your IP :
50.17.27.205
Country Code:


Country Name:


City:


Region:


Latitude:


Longitude:

      Trang Chi Tiết
Cỡ chữ:  Thu nhỏ Phóng to
Tác giả: GĐPT Huyền Quang
     
NGÀI A NAN ĐÀ
I.   Ý nghĩa tên Ngài:
Tiếng Phạn A-Nan-Đà dịch là Khánh Hỷ có nghĩa là vui mừng vì:
1.Ngài sinh ra gặp ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo, ngày vui mừng nhất của nhân loại.
2.Ngài là con Hộc Phạn Vương, em vua Tịnh Phạn. Vua Hộc Phạn rất rộng lượng nhân từ, nên khi có con trai, cả nước cùng chung vui với nhà Vua. Ngài A-Nan-Đà thường dự những lần thuyết pháp của Phật. Ngài là em họ của Phật và là thị giả của Phật.
II. Tiền thân của Ngài:
Trong kinh Lăng Nghiêm có chép: ở một kiếp quá khứ, Ngài cùng đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm thiện hữu đồng phát tâm Bồ Đề, tu các phép hạnh. Nhưng Ngài quá chuộng đa văn, không chuyên hành đạo, còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì luôn luôn tinh-tấn tu hành. Do nhân duyên kiếp trước nên đời nay Ngài sanh vào dòng họ Thích, làm anh em thúc bá với đức Phật. Lúc 25 tuổi, Ngài xuất gia hầu hạ đức Phật và thọ trì chánh pháp.
III. Công hạnh của Ngài và lòng quy ngưỡng của Phật Tử:
1.Vì kiếp trước Ngài thiên trọng trau dồi trí huệ nên đời nay Ngài được trí huệ sáng suốt, hiểu nhớ cùng khắp. Ngài được tôn xưng là đa văn đệ nhất trong hàng đệ tử Phật.
2.Ngài có công lớn trong việc cầu xin đức Phật cho hàng phụ nữ xuất gia tu đạo. Cho nên trong kinh Niết Bàn, đức Phật dạy đến ngày 8 tháng chạp (ngày sinh nhật của Ngài) hàng nữ Phật tử phải tận tâm cúng dường đảnh lễ Ngài để kỷ niệm hồng ân ấy.
3.Ngài là vị tổ thứ hai tiếp nối Ngài Ca Diếp; Ngài đứng hầu bên phải đức Phật.
4.Sau khi đức Phật diệt độ, trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài vâng lệnh chúng Tăng, đọc lại những lời dạy của đức Phật mà Ngài đã được nghe và ghi nhớ.
5.Trong các kinh chúng ta thường thấy câu "Như thị ngã văn" (tôi nghe như vầy) để đầu là biểu ý tất cả bộ kinh đều do Ngài nghe đức Phật thuyết giảng và chỉ đọc lại mong chánh pháp lưu thông, chứ không phải lời ước đoán sai lầm như kinh điển ngoại đạo.
Công ơn đối với hậu thế của Ngài lớn nhất là sự kết tập kinh điển. Ni chúng và hàng nữ Phật tử luôn nhớ ơn đức của Ngài trong việc xin đức Phật cho phái Nữ xuất gia. Tượng Ngài luôn đứng bên phải của đức Phật.
BỐN SỰ THẬT CAO THƯỢNG
I.   căn nguyên và định nghĩa:
Giáo lý của Đức Phật không đặt nền tảng trên sự sợ hãi của những điều gì không biết, mà được xây dựng trên căn bản của những sự kiện có thể khảo sát và chứng minh bằng kinh nghiệm. Phật giáo là thuần lý và thực nghiệm.
Đức Phật, sau khi thành đạo liền đến vườn Lộc-Giả ở Chư Thiên Đọa xứ để độ năm anh em ông Kiều Trần Như - những người bạn cũ của Ngài. Đầu tiên, năm ông này không chịu nghe; nhưng Ngài xuất hiện với tướng hảo trang nghiêm, lời dạy hiền hòa và có sức thu hút, họ trở lại và chú ý, sau cùng trở thành những đệ tử của Ngài và chứng quả A-La-Hán. Bài thuyết pháp này được gọi là Bốn Sự Thật Cao Thượng (Tứ Diệu Đế). Bốn Sự Thật Cao Thượng trình bày triết lý và đạo đức của Phật giáo. Đó là nền tảng của Phật giáo.
II.  hành tướng của bốn đế:
1.Khổ đế: Những khổ đau của cuộc sống liên tục tiếp diễn tạo nên vòng sanh tử luân hồi, từ đời này qua đời khác. Có tám hành tướng khác nhau của sự khổ:
a.Sanh khổ: Nỗi khổ của con người khi được sanh ra và những nghịch cảnh trong cuộc sống.
b.Lão khổ: Nỗi khổ đau do sự già nua suy tàn của thân xác và sự lu mờ của trí tuệ.
c.Bệnh khổ: Nỗi khổ sinh ra do bệnh tật.
d.Tử khổ: Nỗi khổ đau khi sắp lìa đời.
e.Ái biệt ly khổ: Nỗi khổ đau khi phải xa lìa những gì mình yêu mến.
f.Oán tắng hội khổ: Nỗi khổ đau khi phải gặp và chung sống với người mình oán ghét.
g.Cầu bất đắc khổ: Nỗi khổ đau khi những điều mình mong cầu mà không được.
h.Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ: Nỗi đau khổ do sự xung đột, mâu thuẩn, chi phối lẫn nhau của những yếu tố tạo nên con người.
2.Tập đế: Tập đế là sự thật về nguyên nhân của những nỗi khổ đã tích trữ lâu đời trong mỗi chúng sanh. Phiền não tuy nhiều nhưng không ngoài 10 món căn bản sau:
a.Tham: Lòng tham của mỗi chúng sanh.
b.Sân: Giận dữ nóng nãy.
c.Si: Si mê, mờ ám, hoặc nhận xét sai lầm.
d.Mạn: Chỉ biết nâng cao địa vị mình và kìm hãm giá trị người khác.
e.Nghi: Nghi kỵ, ngờ vực, không có lòng tin.
f.Thân kiến: Chấp đắm sắc thân này là thiệt có, trường tồn.
g.Tham sắc giới: Thích được sống mãi trên cõi đời. Nghĩ rằng cái ta thường còn.
h.Tham Vô Sắc giới: Ước muốn được về cõi trời.
i.Kiến thủ: Chấp vào sự hiểu biết của mình, không chịu tin theo chính lý.
j.Giới cấm thủ: Tin tưởng và thực hành những giới điều sai lầm.
3.Diệt Đế: Diệt đế là diệt dục vọng, mê mờ, phiền não. Diệt đế là tịnh quả Niết Bàn.
a.Niết Bàn: Niết là rơi rụng, bàn là mọc lên lăn xăn. Đạt Niết Bàn là dứt sạch sanh nhân, không còn thọ thân chịu khổ. Niết bàn có ba đặc điểm sau:
1.Bất sanh : Không sanh lại vì nhân sanh đã đoạn.
2.Tịch diệt: Thanh tịnh vắng lặng vì tâm niệm không lay động.
3.Giải thoát: Diệt tận phiền não, thoát khỏi rừng mê, thân tâm tự tại, không còn triền miên trong biển khổ.
b.Vị thứ tu chứng:
1.Tu-Đà-Hoàn (Dự Lưu quả): Những vị này rõ chơn lý Bốn Đế nên đi ngược giòng đời và đã đi vào  giòng Thánh. Những vị này đã đoạn diệt được 3 phiền não: Thân kiến, Nghi, và Giới Cấm Thủ. Nếu chưa đoạn diệt hết các phiền não, các vị này còn phải tái sanh 7 lần nữa.
2.Tư-Đà-Hàm (Nhất sanh): Những vị đã đoạn diệt thêm hai phiền não nữa (Tham dục và Sân nhuế) và chỉ phải một lần sanh vào dục giới nữa mà thôi.
3.A-Na-Hàm (Bất lai): Quả vị này dành cho những ai đã chế ngự được bản ngã mình và họ sẽ không còn sanh trở lại dục giới. Nhưng họ sẽ sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên, một cõi trời Phạm Thiên thích hợp cho đến khi chứng đắc quả A-La-Hán.
4.A- La- Hán (Bất sanh): Quả vị Thánh của bậc A-La-Hán, là vị không những chỉ thoát khỏi sự luân hồi mà còn đạt tới trí tuệ hoàn toàn, với tình thương bao la đối với những kẻ còn mê lầm và khổ đau, cũng như có lòng từ bi với tất cả chúng sanh.
4.Đạo đế: Là con đường hướng dẫn, những pháp tu hành hướng đến quả vị Niết Bàn chư Phật. Con đường ấy là "Tám Chánh Đạo".
a.Chánh tri kiến: Hiểu biết đúng sự thật.
b.Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.
c.Chánh ngữ: Lời nói ôn hòa, ngay thẳng, hợp chơn lý.
d.Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, hoạt động hữu ích.
e.Chánh mạng: Sinh hoạt chân chính.
f.Chánh tinh tấn: Tinh tấn trên đường tu hành.
g.Chánh niệm: Nhớ nghĩ những việc chân chánh đã qua, suy tưởng những việc chân chánh sẽ đến, đề phòng và đoạn trừ những hành động bất chánh, những ý tưởng phi pháp.
h.Chánh định: Lặng đứng các vọng duyên tâm trí, để trí huệ minh mẫn được xuất hiện.
Tóm lại, Đạo đế là con đường hướng đến đạo quả do đức Phật thuyết minh. Con đường ấy chắc chắn đưa chúng ta thoát khỏi mê lầm đau khổ, chứng quả vị giác ngộ, an tịnh (Niết bàn).
III. phật tử đối với bốn đế:
Dù chư Phật có ra đời hay không, bốn thánh đế này vẫn tồn tại trong vũ trụ. Đức Phật chỉ là người chứng ngộ những chân lý ẩn tàng trong vô minh của thời gian. Theo đức Phật, những hạnh phúc mà con người thụ hưởng trong dục tình chỉ là những hạnh phúc tạm bợ, giả dối và nhất thời; duy chỉ có không đam mê ái dục mới là hạnh phúc cao quý nhất.
Phật giáo xem sự đau khổ là điều dĩ nhiên và tìm nguyên nhân để diệt trừ nó. Nơi nào có lòng tham thì nơi đó có đau khổ. Nó chỉ có thể đoạn diệt bằng cách thực hành Tám Chánh Đạo để đạt hạnh phúc cao siêu của Niết Bàn.
Là người Phật tử, chúng ta luôn thực hành theo lời dạy của Ngài.
ĐẠO PHẬT LÀ TRIẾT HỌC HAY LÀ MỘT TÔN GIÁO
Đạo Phật là gì? Là một triết học, một khoa học, một luân lý, hay là một tôn giáo? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều thắc mắc về vấn đề này.
Trước mắt tôi là một quyển sách. Nếu bạn hỏi rằng vì sao tôi thấy được cuốn sách đó, tôi sẽ trả lời: vì tôi có đôi mắt. "Vì có đôi mắt" lý ấy ai cũng công nhận. Câu trả lời tuy không sai, nhưng cũng chưa đúng hẳn. Phải muốn thấy được cuốn sách, ta cần phải có đôi mắt, nhưng đồng thời cũng cần có ánh sáng, có không gian và ít ra, cuốn sách đó không có cái gì ngăn che lại... Bao nhiêu điều kiện cần thiết để tôi có thể thấy được cuốn sách! Những điều kiện ấy tương hợp để giúp tôi có thể thấy được một sự vật. Khi bạn hỏi tôi rằng đạo Phật có phải là một triết học không, một tôn giáo không... tôi sẽ trả lời bạn rằng: "Chẳng quan hệ gì lắm những cái tên gọi ấy, bởi vì đạo Phật không phải chỉ là một triết học, hay là một tôn giáo, một khoa học..."
Đạo Phật không phải chỉ là một siêu hình học, dù đạo Phật có đề cập đến những thắc mắc siêu hình. Siêu hình chỉ là một phương diện của đạo Phật, và ngoài phương diện ấy, đạo Phật còn có nhiều phương diện khác nữa.  Đạo Phật có phải là một triết học không? Phải. Có phải là một huyền học không? Phải. Có phải là một luân lý học không? Phải. Đạo Phật là tất cả; cái gì cũng có trong đạo Phật. Nhưng nếu chỉ nghiên cứu sâu xa về một mặt mà bảo rằng đạo Phật chỉ là triết học hoặc chỉ là một luân lý hay một tôn giáo, thế là đã nhìn đạo Phật một cách phiến diện.
Câu chuyện năm người mù rờ voi giúp chúng ta hiểu thêm về vấn đề này. Người rờ chân, bảo voi là cái cột nhà. Người rờ đuôi, bảo voi là cái chổi. Nhưng thực ra voi không phải như cái cột nhà, dù nó có bốn chân giống như bốn cột nhà, không phải như cái chổi, dù nó có cái đuôi giống cái chổi. Cũng như thế, người chú trọng đến phương diện triết học sẽ cho đạo Phật là triết học, kẻ chú trọng đến phương diện tôn giáo sẽ cho đạo Phật là tôn giáo... Kỳ thực, đạo Phật không phải chỉ là triết học, hoặc tôn giáo, hay luân lý. Đạo Phật bao gồm tất cả triết học, luân lý, tôn giáo, huyền học.
Có người bảo rằng đạo Phật tuy không phải chỉ là một triết học, một luân lý, nhưng có thể gọi là một tôn giáo, bởi vì có hình thức đầy đủ của một tôn giáo. Nhưng có nhiều người - mà nhất là người Tây phương - thấy đạo Phật không thờ phụng một đấng tạo hóa nào, thì lại chủ trương ngược lại rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo mà chỉ là một triết học. Họ nói "Nếu đạo Phật là một tôn giáo thì có gì minh chứng rằng đạo Phật là một chân lý thần khải (revelation)? Nguyên lý thần truyền nào làm nền tảng cho sự thành lập tôn giáo này?
Câu hỏi đó thường được nêu ra trong giới học giả Tây Phương. Nhưng thực ra, chẳng có gì quan hệ. Dù ta có gọi đạo Phật là một tôn giáo hay một triết học đi nữa thì đạo Phật cũng vẫn là đạo Phật, đạo Phật không vì thế mà thay đổi đi chút nào. Tiếng "tôn giáo" là một tiếng mới. Trong tam tạng kinh điển ngày xưa, ta không thấy một tiếng nào có nghĩa tương đương.
Người đặt ra nghi vấn trên cho rằng "Tôn giáo thì phải có thần khải, phải có yếu tố thần truyền, thiêng liêng". Định nghĩa này có vẻ tạm thời quá. Chúng ta thử mở một cuốn sách từ điển ra, và sẽ thấy "Tôn giáo = sự liên lạc giữa người ta với một thượng đế hữu ngã". Nhưng không phải ai cũng công nhận như thế. Nếu ta đem hỏi một nhà triết học, một tư tưởng gia, một nhà huyền học... thì ta sẽ thấy mỗi người định nghĩa tôn giáo một cách khác tùy theo sự suy nghĩ và sự hiểu biết của họ. Và trong số các lối định nghĩa, sẽ có những định nghĩa không bắt buộc rằng tôn giáo phải là một sự thần khải, phải thờ một đấng Thượng Đế, hay phải có một yếu tố thiêng liêng.
John Stuart Mill bảo: "Sự chủ yếu của tôn giáo là hướng tất cả mọi xúc cảm và mọi ước muốn của mình một cách nhiệt thành về một đối tượng lý tưởng được xem như siêu tuyệt nhất".
Voltaire cho rằng tôn giáo là "một thứ vô lý đặt ra để bắt đa số phục tùng". Một cuốn tự điển của Nga Sô bắt chước theo quan niệm của Voltaire, cho rằng "Tôn giáo là sự tin tưởng vào thần linh, một sự tin tưởng không căn cứ trên nền tảng khoa học nào cả". Auguste Comete cho rằng: "Tôn giáo là sự thờ phụng nhân loại". Whitehead bảo: "Tôn giáo là sự sinh hoạt của cá nhân trong đơn độc vắng lặng. Nếu anh không sinh hoạt trong vắng lặng đơn độc thì anh không phải là người có tôn giáo".
Và Aldous Huxley bảo: "Tôn giáo là một lối giáo dục nhờ đó mà con người có thể tự giới".
Vậy thì không có một công thức nhất định nào cả. Và lối định nghĩa nào cũng có lý riêng của nó. Ta có quyền nhận hay không nhận định nghĩa của kẻ khác, tùy theo ý ta. Nếu bạn muốn dùng định nghĩa của Voltaire hay của cuốn tự điển Nga Sô thì tùy ý bạn, nhưng người khác như tôi thì lại không nhận định nghĩa đó. Miễn là bạn đừng bắt mọi người phải nhận định nghĩa bạn là đúng và cho tất cả các định nghĩa khác là sai.
Ý tưởng thần khải là một ý tưởng có từ rất lâu. Không những kinh Vệ Đà được xem như là thần khải mà khoa dược khoa học ngày xưa của Ấn Độ, của Trung Hoa cũng được xem là thần khải nữa.
Văn phạm Sanscrit, dân Ấn Độ tin rằng cũng là một thứ thần khải. Chính trong hiện thời, ở Ấn Độ và ở Trung Hoa cũng còn nhiều người tin rằng khoa y dược là một khoa do thần nhân truyền dạy. Cho đến phép cấy lúa, bói toán cũng là do thần nhân chỉ bảo. Ý tưởng thần khải, như thế, đã là một ý tưởng rất xưa và rất sơ khai. Vậy thì có quan hệ gì lắm đâu ở chỗ "thần khải" hay không "thần khải"? Nếu một tôn giáo mà tôi không có sức hiểu và thực hành theo được, nếu tôn giáo ấy không có ảnh hưởng và hậu quả gì đến tôi, thì dù nó có thần khải hay không, đối với tôi nó vẫn là vô nghĩa.
Trái lại, nếu một "tôn giáo" không có thần khải mà tôi hiểu được, thực hành được, có thể đem lại cho tôi nhiều ảnh hưởng tốt và những hậu quả tốt thì tôi vẫn tôn thờ phụng sự như thường.
Vậy ta không cần thắc mắc ở chổ thần khải hay không thần khải, đạo Phật là tôn giáo hay không là tôn giáo. Ta phải vượt ra ngoài những loại định nghĩa kia, như thế mới hiễu được đạo Phật là gì. Ta cũng có thể gọi đạo Phật là một triết học, một tôn giáo, nếu ta muốn, nhưng không phải vì thế mà ta biến cải được đạo Phật. Đạo Phật là đạo Phật, hoặc nói rõ hơn, đạo Phật là những giáo lý của Phật dạy.
NGÀI LIỄU QUÁN
I.   Nguyên quán:
Ngài Liễu Quán tên Lê Thiệt Diệu, quê làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài mồ côi mẹ lúc sáu tuổi. Thân sinh Ngài cho Ngài xuất gia làm đệ tử của Ngài Tế Viên Hòa Thượng, người Trung Hoa.
II.  Sự nghiệp tu hành:
Được 7 năm thì Hòa Thượng Tế Viên viên tịch. Ngài ra Thuận Hóa tham học với Ngài Giác Phong ở chùa Bảo Quốc. Một năm sau (1691) Ngài trở về quê để phụng dưỡng cha già. Sau khi phụ thân mất (1695) Ngài trở lại Thuận hóa thọ Sa di giới với Ngài Thạch Liêm. Năm 1679 Ngài thọ Cụ túc giới với Ngài Từ Lâm. Năm 1699 Ngài đi tham lễ khắp nơi để bồi dưỡng cho sự tu hành. Năm 1702 Ngài đến Long sơn cầu học tham thuyền với Ngài Tử Dung (Tổ khai sơn chùa Từ Đàm). Liên tiếp mấy năm 1733 đến 1735 Ngài đã dự 4 lễ lớn về Đại giới đàn. Năm 1740, Ngài chủ trì đàn Long Hoa truyền giới, sau đó Ngài trở về núi Thiên Thai dựng am thảo ẩn náu tu hành, nay là chùa Thuyền Tôn. Năm 1742 Ngài thọ bệnh. Khi sắp lâm chung, Ngài gọi môn đồ lại dạy rằng: "Nhân duyên đã hết, ta sắp chết đây." Khi thấy môn đồ khóc, Ngài dạy: "Các người khóc làm gì? Các đức Phật ra đời còn nhập Niết Bàn, ta nay đi đến rõ ràng, về tất có chỗ, các người không nên khóc và đừng nên buồn thảm." Kế đó Ngài viết bài kệ từ biệt:
      "Thất thập dư niên thế giới trung
      Không không sắc sắc diệt dung thông
      Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
      Hà tất bôn man vấn tổ tông."
      (Ngoài bảy mươi năm trong thế giới
      Không không sắc sắc thảy dung thông
      Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ
      Nào phải ân cần hỏi tổ tông).
Viết bài kệ xong, Ngài bảo môn đồ: "Sau khi ta đi, các ngươi phải nghĩ cơn vô thường nhanh chóng, cần phải siêng năng tu học, các người cố gắng tiến tới, chớ bỏ quên lời ta."
Ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1742), sau khi dùng nước trà xong, Ngài vui vẻ từ biệt môn đồ, tiêu diêu thoát hóa. Vua Minh Vương được tin liền ban Thụy hiệu là Đạo Hạnh Thụy "Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng". Ngài là đời thứ 35 dòng Lâm Tế chánh tôn, khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn Huế.
III. Ảnh hưởng đạo đức:
Ngài Liễu Quán là một vị danh đức tu hành, có công khai hóa hơn hết.
Nhờ Ngài mà ảnh hưởng phái Lâm-Tế lan rộng từ Trung đến Nam nước Việt và trở thành một nhánh lớn gọi là Liễu Quán. Ngài là một danh Tăng Việt Nam được đắc tuyên xưng là vị tổ đầu tiên. Hiện nay phái Liễu Quán được truyền thừa theo bài kệ dưới đây: "Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng, tâm nguyên quảng nhuận, Đức Bổn Từ phong, giới định phước huệ, thể dụng viên thông, vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công. Truyền trì diệu lý, diễn xướng chánh tông, hạnh giải tương ưng, giác ngộ chân không."
Theo tuần tự bài kệ này, con cháu dòng dõi Lâm Tế hiện nay vào đến chữ Tâm, chữ Nguyên và chữ Quảng.
LỤC ĐỘ
I.   Định nghĩa:
Độ, tiếng Phạn là Ba-La-mật, có nghĩa là vượt qua hay hoàn toàn; từ mê mờ vượt qua giác ngộ; từ đau khổ vượt qua cảnh giới an vui; từ vòng sanh tử vượt qua quả vị Niết Bàn. Lục độ là sáu món có thể đưa mình và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ, thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu món là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thuyền định, trí huệ.
II. Hành tướng sáu độ:
1. Bố thí:
a.  Định danh: Bố thí là cho, giúp đỡ, cứu giúp, tung vãi; đem những tư hữu của mình, tinh thần hay vật chất, ban bố cho tất cả chúng sanh mà không giới hạn người hay vật, thân hay sơ, đồng một chủng tộc hay khác chủng tộc. Hễ thấy một chúng sanh nào thiếu thốn những vật bổ ích cho thân tâm, nếu mình sẵn có, đều bình đẳng giúp đỡ tất cả không bao giờ luyến tiếc.
b. Các món bố thí:
1)Tài thí: Bố thí bằng tiền tài vật dụng; nghĩa là dùng tài sản vật dụng giúp đỡ chúng sanh nghèo đói, thiếu thốn đau yếu.
2)Pháp thí: Bố thí bằng chánh pháp, nghĩa là đem chánh pháp khai thị chánh kiến, phá trừ mê muội điên đảo tà kiến cho chúng sanh.
3)Vô úy thí: Bố thí bằng vô úy; nghĩa là dùng nghị lực, cường dũng, để trừ sự khiếp sợ, nhu nhược cho chúng sanh. Có hai thứ:
-Dùng lời nhuyễn khuyến bảo chúng sanh trong lúc lo buồn đau khổ.
-Dùng các phương tiện giải cứu chúng sanh trong khi bị áp bức khổ não.
c.  Công đức bố thí:
1)Diệt tham lam ích kỷ: Nhờ công năng bố thí, tẩy trừ được tham lam ích kỷ ở tự tâm, thể nhập tánh đại-bi bình đẳng.
2)Đem lại no ấm: Chúng sanh thoát khỏi đói rét đặng vui no ấm đầy đủ, đều nhờ công năng tài thí.
3)Phát triển chánh trí: Pháp thí có công năng phá trừ màn ngu mê, phát triển chánh trí, thâm nhập chánh lý.
4)Đem lại bình tĩnh: Vô úy thí có công năng cởi mở sự lo buồn sợ hãi cho chúng sanh, chúng sanh được sống tự do bình tĩnh.
2. Trì giới:
a.  Định danh: Trì giới là giữ gìn các giới Phật cấm, ngăn ngừa các hạnh bất thiện; nghĩa là thân không làm các việc ác, miệng không nói lời ác, ý không nghĩ các điều ác. Trái lại, còn làm việc thiện, giáo hóa chúng sanh trở về đường thiện.
b.Các món giới:
1)Nhiếp luật nghi giới: Giữ gìn các giới luật oai nghi của Phật chế để ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý như năm giới Ưu Bà Tắc, sáu giới nặng và 28 giới nhẹ của tại gia Bồ tát.
2)Nhiếp thiện pháp giới: thực hành những việc thiện có tính cách lợi mình và lợi người ở hiện tại và tương lai, như thực hành 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.
3)Nhiêu ích hữu tình giới: Hóa độ cứu khổ cho tất cả những loài hữu tình chúng sanh; sống len lỏi trong các tầng lớp chúng sanh để làm lợi ích.
c.Công năng trì giới:
1)Ba nghiệp thanh tịnh: Nhờ công năng trì giới, 3 nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, không phạm các việc ác, không sanh khởi các tà niệm.
2)Các thiện công đức phát sanh: Nhờ công năng trì giới các thiện công đức phát sanh: như trì giới thì từ bi, trí huệ thường phát khởi.
3.Nêu cao giá trị: Nhờ trì giới không phạm các điều xấu xa thô bỉ, giá trị con người trở nên cao đẹp.
4.Người vật kính yêu: Không làm thương tổn người và vật mà trái lại còn giúp ích cho người và vật, tất nhiên được người và vật kính yêu.
3. Nhẫn nhục:
a.  Định danh: Nhẫn nhục là an nhẫn trước mọi hoàn cảnh nghĩa là đối trước mọi cảnh thuận hay nghịch, khen hay chê, thành công hay thất bại, tâm trí vẫn bình tĩnh: không bi quan trước nghịch cảnh, không lạc quan trước thuận cảnh.
b. Các món nhẫn:
1)Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán thán cung kính của chúng sanh.
2)Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng đánh đập của chúng sanh.
3)Nội pháp nhẫn: Mặc dầu bị những phiền não tham sân áp bức, tự tâm vẫn an nhẫn giữ gìn trừ bỏ không cho phát khởi ra ngoài. Tự tâm thanh tịnh sáng suốt, không để các phiền não nhiễm ô sai khiến.
4)Ngoại pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét lạnh nóng ở ngoài áp bức thân thể, nhưng vẫn xem thường không than phiền phẩn uất.
c.  Công năng nhẫn nhục:
1)Không làm những việc vô ý thức: Nhờ nhẫn nhục trừ sự nóng giận, nên không làm những việc càn dở thiếu suy nghĩ.
2)Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh: Nhờ nhẫn nhục tâm trí được bình tĩnh sáng suốt trước những hoàn cảnh thay đổi trái ngược ở đời.
3)Không trụy lạc theo năm dục: Nhờ nhẫn nhục dằn ép được mọi phiền não, mọi vọng tâm không xuôi theo năm dục: tài, sắc, danh, thực, thùy (ngủ).
4. Tinh Tấn:
a.  Định danh: Tinh là không ô nhiễm, tấn là thẳng tới không thối khuất; tinh-tấn nghĩa là chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ làm các thiện pháp không bị các ô nhiễm chi phối, không thối khuất trên đường đạo.
b. Các món tinh tấn: Tinh tấn theo 4 pháp chánh cần.
1)Các điều ác chưa sanh, tinh tấn giữ-gìn không cho sanh khởi.
2)Các điều ác đã sanh, tinh-tấn diệt trừ.
3)Các điều thiện chưa sanh, tinh tấn làm cho phát sanh.
4)Các điều thiện đã sanh tinh tấn làm cho tăng trưởng.
c.  Công năng tinh tấn:
1)Dũng mãnh hăng hái: Nhờ năng tinh tấn, diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác, luôn luôn dõng mãnh hăng hái.
2)Không thối khuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh ngang trái và dõng mãnh tiến đến đạo quả.
3)Cầu đạo giải thoát: Tinh tấn diệt trừ các ác pháp, làm tăng trưởng các thiện pháp hướng tiến đến đạo quả giải thoát và giác ngộ của chư Phật.
5. Thuyền định:
a.  Định danh: Quan sát diệt trừ các vọng duyên điên đảo là Thuyền. Để tâm chuyên chú vào một cảnh sở quán là Định. Thuyền định nghĩa là chuyên tâm chú vào một cảnh sở quán, diệt trừ các vọng duyên điên đảo.
b. Các món thuyền định:
1)Bất tịnh quán: Chú tâm quán sát sự khuyết điểm của vạn pháp: như quán thân bất tịnh.
2)Từ bi quán: Dùng từ bi tâm, quán những nỗi khổ của chúng sanh như già, đau, sống, chết.
3)Nhân duyên quán: Quán sát tất cả các pháp trong thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà thành.
4)Niệm Phật quán: Là quán công đức tướng hảo của Chư Phật.
5)Sổ tức quán: Chuyên tâm quán sát từng hơi thở ra vào, để tâm an trí vào một cảnh, không cho vọng niệm xen vào.
c.  Công năng thuyền định:
1)Dằn ép tham dục: Nhờ bất tịnh quán, dằn ép được tâm tham muốn vật dục, làm chủ được ý muốn, không bị vật dục lôi cuốn và tránh khỏi những tai hại vì vật dục gây nên.
2)Trừ nóng giận: Nhờ từ bi quán mà trừ bỏ được tánh nóng giận, tàn ác. Thiện tâm được khai phát, lòng thương được mở rộng.
3)Phá si mê: Nhờ nhân duyên quán nhận được lý duyên sanh không có thật. Do đó tâm trí được khoáng đạt, phá tan được màn si mê đảo chấp.
4)Ngăn các phiền não: Do niệm Phật mà các phiền não tiêu mòn, trí tuệ và công đức thêm lớn.
5)Diệt loạn tâm: Nhờ sổ tức quán, tâm trí được thanh tịnh, không dong ruỗi bởi những vọng duyên vọng cảnh ở ngoài.
6. Trí huệ:
a.Định danh: Trí huệ là nhận thức sáng suốt; dùng chánh trí nhận hiểu, phân biệt chân tướng của sự vật rõ ràng xác đáng, không nhận giả làm chân, nhận hư làm thật; không chấp chặt thành kiến riêng của mình; không mê theo tà thuyết dị đoan trái với chánh lý. Thường tìm hiểu sự thật và thực hành theo chân lý đúng với sự thật.
b.Các món trí huệ:
1)Văn huệ: Trí huệ xét nghe chánh lý.
2)Tư huệ: Trí huệ suy nghiệm chánh lý.
3)Tu huệ: Trí huệ thực hành chánh lý.
c.Công năng trí huệ:
1)Diệt vô minh: Vô minh là căn bản phát sinh ra phiền não. Nhờ trí huệ phát chiếu mà vô minh đen tối tiêu trừ, căn bản phiền não được dứt sạch.
2)Thấy rõ sự vật: Nhờ công năng trí huệ mà thể nghiệm được sự thật: như chứng nghiệm được vạn pháp là duyên sanh, là vô thường, không có thật.
3)Diệt thành kiến bất chánh: Nhờ công năng trí huệ, phá tan được những kiến chấp sai lầm.
III. Những điều kiện thiết yếu để áp dụng hạnh sáu độ:
1. Phát bồ đề tâm: Phát Bồ đề tâm là phát tâm rộng lớn vô tận, tức là bốn lời nguyện rộng lớn như sau:
a.Chúng sanh không số lượng thệ nguyện đều độ khắp Thế giới vô biên, chúng sanh vô tận; chúng sanh đã vô tận thì căn cơ cũng không đồng, nghiệp duyên và chủng loại cũng sai khác. Người phát tâm thực hành sáu món độ thì phải thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sanh, dù phải trải qua vô lượng kiếp, và gặp những chúng sanh tánh khí không đồng.
b.Phiền não không cùng tận thệ nguyện đều dứt sạch. Tâm tánh của chúng sanh luôn luôn dong ruỗi theo trần cảnh không một sát na ngừng nghỉ, nên các món phiền não theo đó mà phát sanh và tích tụ nhiều như vi trần không kể xiết. Người muốn thực hành sáu độ, phải thệ nguyện dứt trừ tất cả, không bỏ qua một thứ nào, mặc dù chỉ là phiền não nhỏ.
c.Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học. Chúng sanh vô lượng, căn tánh cũng vô lượng. Pháp môn Phật dạy tùy theo căn cơ mỗi chúng sanh nên cũng vô lượng. Người muốn thực hành sáu độ phải thệ nguyện tu học tất cả.
d.Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành. Viên thành Phật Đạo là quả vị tối thắng tối cao. Thành tựu quả ấy là phải diệt tất cả phiền não, học tất cả pháp môn, độ tất cả chúng sanh. Phật tử muốn thực hành sáu độ là phải thệ nguyện đạt đến quả vị ấy.
2. Xem thường tài sản và tính mạng: Phật tử muốn thực hành sáu độ phải mở rộng cõi lòng, xem thường tánh mạng và tài sản mình, chỉ lấy sự lợi lạc chúng sanh làm trọng. Một khi vì cứu một thân mạng cho chúng sanh, cần phải xả tất cả gia nghiệp cho đến tiêu hủy tự thân, Phật tử phải vui lòng đảm nhận không một lời than trách, không một niềm tiếc nuối.
3. Xem chúng sanh đau khổ như mình đau khổ: Phật tử muốn thực hành sáu độ, luôn luôn phải nhận hiểu trăm nghìn nỗi khổ đang đè nặng trên kiếp sống của chúng sanh và phải nhận rõ chúng sanh và mình, tuy hình tướng và tư tưởng khác nhau nhưng vẫn chung cùng một bản thể vô tận. Giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của nước đại dương. Sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế. Nên người Phật tử phải quan niệm rằng: Chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ; cứu chúng sanh tức tự cứu mình vậy.
4. Tự mình có đủ khả năng giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sanh: Người Phật tử phải sáng suốt nhận hiểu; tuy vì nghiệp nhân bất thiện trong nhiều kiếp, mình và chúng sanh phải quanh quẩn chịu khổ trong vòng sanh tử luân hồi, nhưng tất cả mọi loài đều đầy đủ Phật tánh, có đủ khả năng giải thoát và giác ngộ. Tự mình có thể tu hành để phát triển khả năng giải thoát và giác ngộ  sẵn  có  của  mình  và có thể dùng  mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.
IV. Kết luận:
Trừ mê và diệt khổ là nguyện vọng duy nhất của người Phật Tử chân chánh. Muốn đạt được nguyện vọng ấy, cần phải cương quyết thực hành sáu độ này. Chỉ vì có hạnh sáu độ mới đủ công năng đưa mình và chúng sanh đến giác ngộ. Các đức Phật và Bồ Tát đều lấy pháp sáu độ làm căn bản. Trong hoàn cảnh hiện tại, Phật tử đối với sáu độ này, tuy chưa thực hành được hoàn toàn, nhưng cũng cần phải cố gắng. Nếu thực hành được vài phần trong pháp sáu độ này, tức đã tiến một bước khá dài đến hạnh phúc giải thoát.
NGÀI MA HA CA DIẾP
I. Ý Nghĩa Tên Ngài:
Tiếng Phạn là Ma-Ha Ca Diếp, hay Ca-Diếp-Ba, dịch là Ẩm-Quang. Do công đức thếp tượng trong một đời trước, thân Ngài được chói sáng sắc vàng, làm mờ các sắc khác, nên gọi là Ẩm-Quang. Ngài là vị Tổ đầu tiên được đức Phật truyền y bát, nối truyền giáo pháp, nên cũng gọi Ngài là vị Tổ-sư thứ nhất.
II. Thân Thế của Ngài:
Ngài sanh ở nước Ma-Kiệt-Đà, dòng Bà-la-môn, một chủng tộc có quyền thế ở Ấn Độ. Phụ thân Ngài là Ẩm-Trạch, mẫu thân là Hương-Chi. Ngài rất giàu, nhưng Ngài không tham những sự sung sướng về vật chất dục vọng. Bị ép lập gia đình với một người đàn bà đẹp ở thành Tỳ-Xá-Lỵ. Ngài rất sung sướng được thấy vợ Ngài cũng đồng một niệm ly dục như Ngài, và hai người chung sống nhưng thân tâm vẫn thanh tịnh. Sau hơn 12 năm, hai người đều đi tu. Ngài Ma-Ha Ca-Diếp thọ giáo làm đệ tử Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.
III. Công Hạnh Của Ngài và Lòng Quy Ngưỡng Của Phật Tử:
Ngài tu theo hạnh đầu-đà. Lúc già yếu, Ngài không những không thối chuyển mà còn siêng tu bội phần hơn. Đức Phật tán thán khích lệ rằng: "Có hạnh đầu-đà, pháp ta mới trường tồn" (Đầu đà nghĩa là phải rũ sự tham trước ba món: ăn, mặc, ngủ). Ngài được tôn xưng là Đầu-đà đệ nhứt, thường đứng hầu bên tay trái Đức Phật.
Sau khi Đức Phật nhập Niết-Bàn, Ngài hội họp Tăng-chúng, gồm những vị đại đức thông hiểu kinh luật, tại nước Ma-kiệt-Đà, thành Vương-xá, núi Kỳ-xà-Quật để kết tập kinh, luật, luận. Hội nghị nầy là lần kết tập đầu tiên. Ngài là vị Tổ sư thứ nhất được Đức Phật truyền y bát, cầm đầu Tăng chúng và truyền bá giáo pháp. Ngài lại tượng trưng cho hạnh ly dục hoàn toàn của đạo Phật.
Phật tử chúng ta luôn luôn ghi nhớ ân Ngài, bằng cách đảnh lễ tán thán Ngài, tu học truyền bá hành pháp và tập sống theo hạnh ly dục thanh tịnh của Ngài.
MƯỜI ĐIỀU THIỆN
Ngài A-Nan thuật: 
"Tôi nghe Phật nói kinh Thập Thiện này trong khi Ngài cùng các đệ tử ở cung Ta-Kiệt La-Long-Vương."
Ta-Kiệt La-Long Vương là người có nhân duyên trong pháp hội nên Phật gọi ông và dạy:
"Tất cả chúng sanh vì tâm tưởng sai khác nên tạo các hạnh nghiệp chẳng đồng: do hạnh nghiệp ấy, chúng sanh bị luân hồi trong sáu cõi. Có những thân hình, sắc tướng sai khác là do tâm tạo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Những người có trí tuệ, rõ biết nhân quả, nên tu thiện nghiệp để được thân tướng tốt đẹp, quốc độ trang nghiêm.
"Long vương! Ngươi thử xem thân tướng của Như Lai và các vị Bồ-tát có đủ các tướng tốt hào quang sáng chói như thế, đều do tu thiện nghiệp mà được. Còn tất cả chúng sanh hình sắc hoặc xấu hoặc tốt, hoặc lớn hoặc nhỏ, mỗi người đều do tự tâm tạo nghiệp gây ra.
"Long vương! Ngươi phải biết Bồ tát có một pháp có thể dứt tất cả các sự khổ não trong các đường dữ, là luôn luôn quan sát tu-tập thiện pháp, làm các thiện pháp niệm niệm tăng trưởng; không một niệm ác xen lẫn". Thiện pháp là pháp lành. Pháp ấy là mười nghiệp lành gồm có:
 A)       Về Thân có ba:
Không sát hại các loài vật mà nên phóng sanh
Không trộm cắp của cải mọi người mà nên bố thí
Không tà hạnh mà nên tu hạnh trinh chánh.
B) Về Khẩu có bốn:
Không nói dối mà nói lời thành thật
Không nói thêu dệt mà nói lời đúng đắn
Không nói phân rẽ mà nói lời hòa giải
Không nói thô ác mà nói lời dịu ngọt.
C) Về Ý có ba:
Không tham dục mà quán bất tịnh.
Không giận hờn mà quán từ bi.
Không si mê mà quán nhân duyên.
i.Không sát sanh: Nếu không sát sanh thì được mười pháp ly não (rời các khổ não):
1. Thí vô úy cho tất cả chúng sanh. (vô úy = không sợ hãi)
2. Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sinh
3. Trừ sạch thói quen giận hờn
4. Thân thể thường được khỏe-mạnh
5. Tuổi thọ được lâu dài
6. Thường được Thiện thần hổ trợ
7. Ngủ ngon giấc và không ác mộng
8. Trừ hết các mối oán thù
9. Khỏi bị sa-đọa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh)
10. Sau khi chết, được sanh lên cõi Trời.
ii.Không trộm cướp:Nếu không trộm cướp thì được 10 pháp bảo tín (giữa sự tín cậy)
1. Tiền của có dư không bị nạn lụt trôi, lửa cháy, con cái phá tán.
2. Nhiều người ái niệm.
3. Không ai phụ bạc.
4. Mười phương đều tán thán.
5. Không lo bị tổn hại.
6. Tiếng tốt được lưu bố.
7. Ở trong chúng được vô úy.
8. Tài, mạng, sắc, lực và an lạc biện tài đầy đủ.
9. Thường muốn bố thí.
10.Khi chết rồi được sanh lên cõi Trời.
iii.Không tà hạnh:Nếu không tà hạnh thì được bốn món công đức, các người thiện trí thức đều tán-thán.
1. Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
2. Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
3. Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
4. Được tiếng tốt, người đời khen ngợi.
iv. Không nói dối: Nếu không vọng ngữ thì được 5 món công đức:
1. Miệng thường thơm sạch.
2. Thế gian và nhân thiên đều kính yêu.
3. Lời nói không lầm lộn và vui vẻ.
4. Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
5. Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.
v.Không nói phân rẽ: Nếu không nói phân rẽ thì được:
1. Thân bền chắc, vì không ai hại được.
2. Quyến thuộc bền chắc, vì không ai chia rẽ được.
3. Đức tin bền chắc, vì không ai xoay chuyển được.
4. Pháp hạnh kiên cố.
5. Gặp thầy hiền bạn tốt.
vi. Không nói lời thô ác: Nếu không nói thô ác, thời được tám món tịnh nghiệp:
1. Lời nói có độ lượng.
2.Lời nói có lợi ích.
3. Lời nói đúng chân lý.
4. Được ngôn từ tao nhã.
5. Lời nói được vâng nghe.
6. Lời nói được tin dùng.
7. Lời nói không thể chê được.
8. Lời nói ai cũng ưa thích.
Nếu đem tám công đức ấy hồi hướng Phật quả về sau lúc thành Phật được phạm âm thanh tướng của Như Lai (âm thanh của Như Lai chuyển hóa đến tất cả chúng sanh đều thấu hiểu).
vii.Không nói thêu dệt: Nếu không nói thêu dệt thời được ba món quyết định:
1.Được người trí thức yêu mến.
2.Có thể lấy chánh trí giải đáp các câu hỏi hợp với chánh lý.
3.Oai đức tột bực trong hàng nhân thiên.
viii.Không tham dục:Nếu không tham dục thời được 4 món tự tại:
1.Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự-tại, vì nhân các căn đều đầy đủ.
2.Của cải không mất-mát, hay bị cướp-giựt.
3. Phúc đức tự-tại.
4.Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.
ix.Không giận hờn: Nếu không giận hờn thì được:
1.Không có tâm làm tổn não chúng sanh.
2.Không tâm giận hờn.
3.Không tâm tranh giành.
4.Tâm nhu hòa ngay thẳng.
5.Tâm từ-bi như Phật.
6.Thường làm lợi-ích yên ổn cho các chúng-sanh.
7. Thân tướng trang nghiêm, chúng sinh đều tôn kính.
8.Có đức nhẫn-nhục, được mau sanh lên cõi Phạm-Thiên.
x.Không si mê: Nếu không tà kiến thời được:
1. Tâm hiểu biết chánh đáng, được gặp bạn hiền.
2. Tin sâu nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác.
3.Chỉ quy-y Phật, chứ không quy-y thiên thần và ngoại đạo.
4. Tâm được ngay thẳng, chánh-kiến.
5. Sanh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác.
6.Phúc huệ khôn lường, thường tăng lên mãi.
7.Dứt hẳn đường tà, chăm tu đạo chánh.
8.Không lòng chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
9.Yên ở nơi chánh kiến.
10.Khỏi bị nạn dữ.
"Long Vương! tất cả nhân thiên đều nương 10 nghiệp lành này mà an lập; tất cả giác ngộ của Thanh Văn, Duyên Giác, tất cả Bồ tát hạnh và Phật pháp đều nương nơi 10 nghiệp lành này mà thành tựu, nên các người phải tu học."
Ta-kiệt La-Long Vương và đại chúng nghe Phật nói kinh mười điều này rồi, tâm rất vui mừng, tín thọ và tu hành.
Lời nói phụ:
Mười nghiệp lành, cũng như mười nghiệp dữ, đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một đám ruộng. Cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt để mãn mùa thu thập được nhiều, thì phải nhổ sạch cỏ. Bởi thế, muốn được nghiệp lành, thì cần phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.<.div>
Hàng-phục mười nghiệp dữ rồi, mỗi ngày cứ phát-triển nghiệp lành mãi, thì sẽ được bốn điều lợi ích sau này:
1.Sửa Đổi thân tâm:
Thân tâm con người thường bị nghiệp-lực chi phối. Sự thực-hành mười nghiệp lành sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ: như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ-bi, sự thù-oán sẽ đổi ra thành ân nghĩa.
2.Cải tạo hoàn cảnh:
Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản-ảnh tất cả những cử chỉ hành-động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng-sanh thì hoàn-cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh-giới tốt đẹp. Chẳng hạn, khi ta không giận hờn, lại tu hạnh nhẫn-nhục, thì hoàn-cảnh không có sự đấu tranh giết hại, mà chỉ là sự tương thân tương ái.
class=gContentSection>3.Chánh nhân thiên giới:
Tu Mười Nghiệp Thiện là gieo nhân tốt để đời sau gặt kết quả đẹp-đẽ là sanh lên cõi Trời, hưởng phước lạc đầy-đủ.
4.Căn bản Phật quả:
Mười phương ba đời, các vị hiền thánh thoát khỏi sanh-tử, chứng quả vô-thượng, đều lấy mười nghiệp thiện làm căn bản; vì mười nghiệp lành này có công-năng ngăn ngừa các hành vi độc ác, làm cho ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) được thanh tịnh, nhờ đó, con người mới thoát ly sanh tử, chứng quả Niết-bàn. Nếu đem mười nghiệp lành này hồi-hướng cho toàn thể chúng sanh thì sẽ được Phật-quả.
Tóm lại, tu Mười Nghiệp Thiện thì trong đời hiện-tại thân tâm ta được cải thiện đẹp-đẽ, hoàn cảnh ta sống được sáng-sủa tươi vui, và trong tương-lai tránh khỏi đọa-lạc chốn tam-đồ, lại được hưởng phước báu cõi Nhân, Thiên và Niết-bàn.
Vậy ước mong tất cả mọi người nên tu Mười Nghiệp Thiện để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.
MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
Thập nhị nhân duyên chỉ là một bài giảng nói về 12 nguyên nhân của sự luân hồi và đau khổ; chứ không phải là một lý thuyết về nguồn gốc của đời sống hoặc trình bày tiến hóa từ khởi thủy của vũ-trụ.
I.Định nghĩa:
Nhân là do bởi hay tùy thuộc vào, duyên là phát sinh hay căn nguyên. Nhân duyên cũng có nghĩa là duyên sanh hoặc duyên khởi.
1.Duyên sanhChỉ cho sự vật khi đủ duyên thì được phát sanh.
Thí dụ Cái tượng là do đủ các duyên như vật liệu, nước, ánh nắng mặt trời, nhân công ...
2.Duyên khởi:Chỉ sự quan hệ, sanh khởi của sự vật. Sự vật sanh khởi đều có quan hệ và làm duyên sanh khởi cho nhau.
Thí dụ Cây cam có quan hệ với hạt giống cam. Cây cam là duyên sanh khởi cho trái cam.
II.Hành tướng:
Mười hai nhân duyên là: Vô minh (Avijja), Hành (Sankhara), Thức (Vinnana), Danh sắc (Nama Rupa), Lục nhập (Salayatana), Xúc (Phassa), Thọ (Vedana), Ái (Tanha), Thủ (Upadana), Hữu (Bhava), Sanh (Jati) và Lão tử (Jara-marana).
1.Vô minh: Mê lầm, tối-tăm, không sáng suốt. Đối với ngoại cảnh, không nhận chân được thực tướng của chúng là giả dối, là vô thường. Đối với nội tâm, không nhận chân được tự tâm là thanh-tịnh, luôn luôn quay cuồng theo vọng tâm phân biệt (ý thức). Vô minh là nguyên nhân đầu tiên tạo nên mọi khổ đau cho nhiều đời nhiều kiếp.
2.HànhHành động, chỉ cho những nghiệp lực của phiền não. Vì vô minh nên khiến Hành phát sanh - gồm thiện và ác. Những hành động dù tốt hay xấu vẫn tạo nên kết quả, dẫn đến sự kéo dài cuộc sống luân-hồi.
3.Thức: Vọng thức phân biệt. Do Vô minh và Hành kết thành những sự phân biệt, hiểu biết sai lầm. Vì hiểu sai lầm nên chấp có năng (mình) và sở (ngoại vật). Do sự chấp sinh ra lòng bảo thủ thân mạng; và những tâm niệm vui, buồn, thương ghét... cũng do đó mà sinh ra. Thức là một trong ba điều kiện cần yếu (thọ, noãn, thức) để thọ thai và tạo thành thân mạng.
4.Danh sắc Danh sắc là cấu tạo của loài hữu tình khi còn ở thai tạng. Nhờ có tâm thức (danh) và tinh cha huyết mẹ (sắc) hòa hợp nương tựa vào nhau nên thai chất mới dần dần sanh trưởng, không bị tiêu diệt.
5.Lục nhậpSáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) của người mẹ tiếp nhận và truyền vào nuôi dưỡng, do đó thai mới sống và sanh trưởng.
6.Xúc:Sau khi thai ra đời, các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với ngoại cảnh (trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Nhưng vì còn nhỏ, các giác quan còn yếu, chưa thể tiếp nhận và phân tích một cách đầy đủ và tinh-tế, nên gọi là xúc.
7.Thọ:Lãnh thọ. Bây giờ đứa bé đã biết tiếp thọ ngoại cảnh một cách tiến bộ hơn. Biết tủi khóc trước những điều trái ý, vui cười trước những cảnh vừa lòng.
8.Ái: Tham ái. Chính thọ đã sinh ra lòng tham ái. Đắm say trước những gì tốt đẹp ưa thích, ruồng bỏ những gì xấu xa, chán ghét.
9.Thủ:Dành giữ lấy. Lòng tham đắm trước những gì tốt đẹp ưa thích nên cố dành giữ lấy. Đây là nhân của bao nhiêu tội lỗi.
10.Hữu:Hậu hữu. Do ái và thủ làm nghiệp nhân, nên tiếp nối thọ sanh thân hậu hữu để chịu những quả báo đau khổ trong ba cõi.
11.Sanh:Sanh mạng. Chỉ chung cho sự cấu tạo của loài hữu tình  (tâm và sắc);  trong ấy
gồm cả tinh thần (tâm lý) và thể chất (vật lý). Sống trong một thời gian tùy theo hạnh nghiệp của sinh mạng quyết định.
12.Lão tử:Lão là chỉ cho giòng sinh mệnh đã hầu tàn. Tử là chết, là kết thúc giòng sinh mạng của một đời người.
Suy nghiệm lý thập nhị nhân duyên theo chiều ngược lại ta sẽ hiễu rõ vấn đề hơn:
Lão và tử chỉ có thể ở trong và với một cơ thể tâm lý. Một cơ thể như thế cần có sự sanh ra (sanh), cho nên có thể bao hàm sự sanh trong đó. Mà sanh là kết quả của hành động hay nghiệp quá khứ (Hữu). Nghiệp phát sanh do Thủ và Ái. Ái chỉ phát sanh khi có Thọ; và Thọ là kết quả của sự tiếp xúc sáu căn và sáu trần (Xúc và Lục nhập). Sáu căn không thể có nếu không có Danh và Sắc.
Danh sắc lại do Thức phát sanh. Thức do kết quả của các việc làm tốt hoặc xấu. Hành động tốt xấu bắt nguồn từ Vô minh, vì không nhận chân được thực tướng của vạn hữu. Đó là tập hợp toàn bộ tạo nên sự khổ đau.
III. Phân loại:
1.HoặcChỉ trạng thái mê-mờ của tâm lý, nên nhận định nội tâm, ngoại cảnh rất sai lầm, không sáng suốt. Vô minh, ái, thủ là phản ảnh của tâm lý này.
2.Nghiệp:Những hành động sai lầm phát ra ở thân, tâm. Hành và hữu là phản ảnh của những nghiệp động tác này.     
3.Khổ Quả báo đau khổ do Hoặc và Nghiệp gây nên. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, lão tử thuộc về quả báo khổ này.
IV. Công năng:
1.Muốn chấm dứt luân hồi sanh tử phải đoạn trừ quả báo hiện tại và tương lai. Muốn đoạn trừ quả báo hiện tại và tương lai phải đoạn trừ vô-minh, hành, ái, thủ, hữu.   
2.   Khi nhận định sáng suốt và có công tu tập để đoạn trừ các nghiệp nhân hữu lậu thì không còn bị trôi lăn trong giòng sanh tử và tri giác sẽ được phát hiện hoàn toàn.
V. Phật tử với 12 nhân duyên:
1.   Giáo pháp 12 nhân duyên giúp ta hiểu rõ sự thật của sự vật. Về không gian, sự vật chỉ là sự hòa hợp của tâm lý và vật chất; về thời gian sự vật chỉ là sự nối tiếp giữa quá khứ và tương lai. Vì thế, sự vật không phải là một bản thể cố định và đơn độc.
2.Hiểu rõ nghiệp nhân căn bản tạo thành sinh mạng và nhận rõ những sự thay đổi của sinh mạng từ quá khứ đến tương lai.        
3. Sự vật không phải do tạo hóa, tự nhiên hay vô nhân mà có; trái lại, sự vật đều do nhân duyên sanh khởi, tồn tại và biến diệt. Thấy rõ sự thật của sự vật là vô thường, vô ngã thì có thể trừ bỏ được vọng tâm tham muốn. Hiểu rõ những nghiệp nhân căn-bản tạo thành sinh mạng thì có thể chuyển đổi được nghiệp quả xấu xa. Khi nhận rõ sự vật chỉ là biến trạng của nhân duyên thì có thể cải tạo được đời sống đầy đau khổ thành an vui tự tại.
Là Phật tử, chúng ta cần nghiên cứu, quan sát và chuyên tâm tu tập, đồng thời khuyến khích mọi người nghiên cứu, quan sát và tu tập như mình, để cùng thoát ly sự sống chết luân hồi và được giải thoát an vui.
NGÀI NGUYÊN THIỀU
I. Nguyên quán:
Ngài Nguyên Thiều không rõ gia thế ra sao, thân sinh và thân mẫu tên gì. Chỉ biết Ngài họ Tạ, người Trung Hoa, quê ở Trịnh Lương, Huyện Triều Châu, tỉnh Quảng Đông.
II. Sự nghiệp tu hành:
Ngài xuất gia năm 19 tuổi, tu ở chùa Bảo-Tự (Trung Hoa), thọ giới với Ngài Đổi-Khao Khoán-Viên Hòa Thượng (Trung Hoa). Đến năm Cảnh Trị thứ ba đời Lê Huyền Tôn, năm Ất Tỵ thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1665), Ngài theo tàu buôn qua An-Nam (Việt Nam cũ) ở tại Quy-Ninh (Bình Định) lập chùa Thập Tháp Di Đà, mở trường truyền dạy. Sau ra Thừa Thiên lập chùa Hà Trung thuộc quận Phú Lộc rồi lên Huế lập chùa Quốc Ấn và dựng tháp Phổ Đồng (tháp này bị quân Tây Sơn phá). Ở tại Quốc Ấn ít lâu, Ngài phụng mệnh đức Anh Tôn (Nguyễn Phúc Tăng 1667-1691) trở về Trung Hoa mời các vị cao Tăng và thỉnh Pháp tượng, Pháp khí. Đến Quảng Đông Ngài mời được Hòa Thượng Thạch Liêm và nhiều vị danh Tăng khác cùng thỉnh nhiều kinh điển tượng khí đem về nước. Lúc ấy Chúa Nguyễn ra lệnh mở đàn truyền giới rất long trọng tại chùa Thiên Mụ.
Năm Thảo Thế thứ 10, ngày 19 tháng 10 (?), Ngài cho gọi tất cả đồ chúng dặn dò mọi việc và truyền bài kệ rằng:
"Tịch tịch kỉnh vô ảnh
Minh minh châu bất dụng
Đường đường vật phi vật
Liễu liễu không vật không."  
Ngài muốn chúng Tăng thấu hiểu rằng Thể pháp thân thanh tịnh trong sáng như bức gương, tuy hiện tại của sự vật có sai khác nhưng đều là một thể pháp thân luôn thay đổi, thể pháp thân thường vẳng lặng mà không phải là không, tức là chơn không diệu hữu vậy.
Sau đó Ngài ngồi yên lặng viên tịch.
III. Ảnh hưởng đạo đức:
Ngài Nguyên Thiều là vị tổ truyền của phái Lâm Tế đầu tiên ở Trung kỳ và cũng là người đem đạo Phật vào Thừa Thiên trước nhất. Ngoài việc khai sáng chùa Quốc Ân và Hà Trung ở Thừa Thiên và chùa Thập Tháp ở Bình Định, Ngài đã cung thỉnh một số cao Tăng khác như Ngài Thạch Liêm, Ngài Tử Dung, Ngài Từ Lâm, Ngài Thuyền Lâm qua Việt Nam lập giới đàn đầu tiên, sau đó các Ngài này đều ở lại và lập chùa Từ Đàm, Thuyền Lâm, Từ Lâm, Khánh Vân ... Nhờ vậy, dân chúng được thấm nhuần ảnh hưởng tốt đẹp của đạo Phật. Hiện nay các ngôi chùa này vẫn còn và đều là những ngôi chùa danh tiếng ở Thừa Thiên.
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ THỜI TRẦN ĐẾN CẬN ĐẠI
i.Phật giáo đời Trần (1225-1400):
1.Trần Thái Tôn (1225-1258): Trần Thái Tôn là một vị vua hiểu đạo rất sâu. Bên cạnh việc triều chánh, Ngài chuyên lo truyền bá Đạo Phật bằng cách lập chùa, hoằng pháp và ủng hộ Phật, Pháp, Tăng. Ngài cho ấn bản hai tập: Thuyền Tôn Chỉ Nam giải rõ đạo lý tu thiền và tập Khóa-Hư nói rõ về 4 sự khổ: Sanh, lão, bệnh, tử. Hai tập sách này rất có giá trị.
2.Trần Thánh Tôn (1258-1278):  Mặc dầu cho khuếch trương Nho học nhưng vua Trần Thánh Tôn vẫn sùng mộ Phật Giáo.
Trần Nhân Tôn (1278-1293):  Vua Nhân Tôn sùng tín đạo Phật, năm 16 tuổi Ngài bỏ Hoàng cung định đến núi Yên Tử để tìm đạo, nhưng sau đó phải theo lệnh vua cha trở về. Ngài theo học với Ngài Tuệ Trung Thượng-sĩ thuộc phái Vô-Ngôn-Thông. Năm 1293 Ngài truyền ngôi cho con và sáu năm sau, Ngài rời bỏ cung điện lên tu tại núi Yên Tử lấy hiệu là Hương-Vân Đại-Đầu-Đà. Phật giáo trong triều đại nầy rất thịnh.
Trần Anh-Tôn (1293-1314): Rất tinh thông Phật Pháp. Ngài là học trò của Pháp Loa Tôn Sư. Mặc dầu Ngài hết sức chăm lo truyền bá Phật giáo, nhưng đạo Phật trong thời kỳ này bị pha lẫn với ngoại giáo do sự ngộ nhận của người trì đạo cũng như do hoàn cảnh ngoại giao chi phối.
ii.Phật giáo đời nhà Hồ (1400-1407) và nhà Minh (1414-1427):
Nhà Hồ làm vua được 7 năm thì bị nhà Minh sang đánh chiếm. Nước ta bị lệ thuộc nhà Minh. Phật giáo trong thời kỳ này không có gì đáng kể. Năm 1416, nhà Minh tịch thu các sách vở trong nước và cả kinh điển Phật giáo đem về Kim Lăng, và đốt phá các chùa chiền. Sau đó nhà Minh lợi dụng Phật giáo cho sự cai trị và đưa Phật giáo vào chỗ khốn đốn hơn.
iii. Phật giáo đời Hậu Lê (1428-1527):
Phật giáo trôi theo sự điêu tàn của các thời đại trước nên chẵng có gì đáng ghi nhớ trong thời kỳ này.
iv. Phật giáo trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh (1528-1802):
Phật giáo trong thời kỳ này có cơ phục hưng do mấy phái Thuyền Tôn mới truyền sang.
1.Miền Bắc:
Dưới thời vua Lê Thế-Tôn (1573-1599) có phái Tào-động do Ngài Trí-Giả Nhứt-Cú người Trung hoa truyền sang và sau đó tiếp truyền cho Ngài Thủy-Nguyệt và Ngài Tôn-Điển. Tào-động là một chi nhánh của Ngài Bồ-Đề Đạt-Ma.
Đến thời vua Hy Tôn (1676-1705), có phái Liên-Tôn do Ngài Lân-Giác Thiền Sư lập ra tại chùa Liên phái (Hà Nội). Cùng lúc đó, Ngài Nguyệt Quang thành lập chi phái của phái Lâm-Tế ở chùa Bà-đá.   
Từ vua Lê Dụ-Tôn (1719), Lê Hy-Tôn (1737) đến vua Chiêu Thống (1787), Phật giáo lúc thịnh lúc suy không có gì đáng ghi chép.
2.Miền Nam:
Khi chúa Nguyễn vào trấn đất Thuận Hóa và mở mang mọi việc, Phật giáo được thịnh hành. Bấy giờ có Ngài Tế-Viên Hòa Thượng, Ngài Giác Phong Lão-tổ người Trung hoa đem Phật giáo vào Việt Nam. Năm 1665 (đời chúa  Nguyễn  Phúc  Tần  1648-1667).   Ngài

Nguyên Thiều từ Trung Hoa vào Quy-Ninh (Bình định) lập chùa Thập Tháp Di-Đà, rồi lập chùa Hà Trung ở Thuận-Hóa và chùa Quốc-Ấn ở Thừa-Thiên.  
Đến đời Chúa Nguyễn Anh-Tôn (1687-1691), các Ngài Thạch Liêm, Tử Dung Minh-Hoằng, Minh-Hải Pháp-Bảo và Minh Hành Tại-Toại đến và lập chùa Linh Mụ, Thuyền Lâm, Kim Tiên, và Từ Đàm. Trong thời kỳ này có Ngài Liễu Quán người Phú Yên theo thọ giáo với Ngài Tế-Viên Hòa Thượng rồi đến thọ giáo Ngài Giác Phong ở Chùa Báo-Quốc. Sau đó Ngài trở về Thuận Hóa lập chùa Thuyền Tôn.
v.Phật Giáo triều Nguyễn:
Sau khi ba anh em Tây Sơn thống nhất toàn cõi Việt nam, nhiều Chùa bị đốt phá như: Bảo Quốc, Quốc Ấn, Từ Đàm...       
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh đánh bại Tây Sơn và lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long. Ngài cho trùng tu và sửa sang lại các chùa chiền.
Năm 1815 cho sửa lại chùa Thiên Mụ. Năm Minh Mạng thứ 7 (1839) cho sửa lại chùa Thánh Duyên. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) xây tháp chùa Thiên Mụ và xây cất chùa Diệu Đế. Năm Tự Đức thứ 7 (1854), nhà vua cho cấp các công điền cho các chùa. Trong giai đoạn này, tuy vua quan có lòng sùng mộ đạo Phật, nhưng phần nhiều chỉ để cúng bái cầu phước.
vi. Phật Giáo cận đại:
Từ 1879, Pháp đặt nền đô hộ lên Việt Nam và Phật giáo cũng bị yếu dần. Mãi đến thế kỷ 20, Phật giáo mới bắt đầu phục hưng. Nhiều Hội Phật giáo, Phật học được thành lập. Ở miền Nam có Hội Nam kỳ, Hội Nghiên Cứu Phật Học (1931); ở Trung có Hội An Nam Phật Học (1932) sau đổi thành Hội Việt Nam Phật Học; ở Bắc có Hội Bắc kỳ Phật Giáo (1934). Chủ trương chung của các Hội Phật Giáo hay Hội Phật Học là đào tạo Tăng tài. Các Phật Học Đường được thành lập, các tạp chí Phật giáo được xuất  bản.  Các  Hội  đặc  biệt giảng dịch kinh điển ra Quốc văn, cải hóa đời sống xã-hội theo tinh thần Phật giáo, giáo dục các hàng Thanh Thiếu Nhi. Các Phật Học Đường như Tăng trường tại chùa Quán sứ và Ni trường tại chùa Bồ Đề ở Bắc, Phật Học Viện Tây Thiên, Phật Học Đường Bảo Quốc, Ni trường Diệu Đức ở Trung, ở Nam có Phật Học Viện của Hội Lương Xuyên Phật Học Trà Vinh. Về báo chí, ở Bắc có tờ Đuốc Tuệ, ở Trung có tờ Viên Âm và Phật Học Tùng Thư của Hội Việt Nam Phật Học, ở Nam có tờ Từ Bi Âm, tờ Duy Tâm.
Tại các tỉnh, các Huyện, các làng đều tổ chức các Chi Hội, các Khuôn Tịnh-Độ, các đoàn Đồng Ấu Phật Tử và các Gia Đình Phật Tử.
Các vị sáng lập hoặc chủ trương mọi công việc hoằng hóa Phật giáo lúc bấy giờ đều là những vị Đại Đức Danh Tăng và các cư sĩ thuần thành sáng suốt.
Năm 1951, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội Chủ gồm ba Giáo Hội Tăng Già (Bắc, Nam, Trung) và 3 Hội Phật Học (Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, Hội Việt Nam Phật Học ở Trung và Bắc kỳ Phật Giáo Tổng Hội).
Hiệp Định Geneve (1954) chia Việt nam thành hai, từ vĩ tuyến 17. Miền Bắc do Đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển, các hoạt động Phật giáo bị kềm kẹp và như hoàn toàn tê liệt. Ở miền Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng áp dụng các luật lệ của Thực dân Pháp để khống chế Phật Giáo. Năm 1963, Phật giáo bị chính quyền đàn áp thẳng tay. Toàn thể Phật giáo miền Nam đã quyết tâm tranh đấu chống lại sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm và các anh em của ông ta. Nhiều Tăng Ni Phật Tử đã phải hi sinh trong cuộc tranh đấu này. Tháng 11/1963, chính phủ Ngô Đình Diệm bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa lật đổ, Phật Giáo được tự do trong thời gian ngắn. Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập thay thế Tổng Hội Phật Giáo và quy tụ thêm các Hệ phái Phật giáo khác (Phật giáo Theravada, Phật Giáo Nguyên Thủy và Phái đoàn Phật Giáo Minh Đăng Quang).
Từ năm 1966, tình trạng chính trị tại miền Nam càng ngày càng rối loạn. Phật giáo là nạn nhân trong cuộc tranh đấu đòi dân chủ. Hiệp định Ba Lê (1/1973) được ký kết giữa 4 phe: Cộng Sản miền Bắc, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (do Cộng sản miền Bắc thành lập và điều khiển), Chính Phủ miền Nam và Hoa Kỳ để chấm dứt cuộc chiến không phân thắng bại giữa hai phe Quốc Cộng. Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam mặc cho Cộng Sản miền Bắc được sự viện trợ tối đa của Trung Cộng và Liên Sô đã bất chấp Hiệp Định ồ ạt đưa quân vào đánh chiếm miền Nam. Bị cô thế, tháng 4/1975, chính quyền miền Nam sụp đổ và Cộng Sản miền Bắc dưới chiêu bài Giải phóng Miền Nam đã hoàn toàn cưỡng chiếm hoàn toàn và đưa đất nước dần đến bần cùng và nghèo đói. Hơn cả triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi và định cư khắp các quốc gia trên thế giới. Phật giáo Việt Nam cũng từ đó được lan rộng khắp nơi.
Tại Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản cho thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (1991) trong mục đích lợi dụng Phật giáo để đàn áp và tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ở hải ngoại nhiều Hội Phật Giáo đã được thành lập theo nhu cầu của Phật tử nhưng vấn đề thống nhất thành một khối cũng không phải là một việc làm dễ dàng. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại đã được thành lập từ 1992 đã quy tụ nhiều Giáo Hội và Hội Phật Giáo tại Hải ngoại và xem như một phần của Giáo Hội tại quê nhà trong cố gắng tranh đấu cho sự tự do và nhân quyền tại Việt Nam. Không biết cho đến lúc nào thì Phật giáo được tự do hoạt động tại Việt Nam để những người con Phật có cơ hội tu tập theo giáo lý của đức Từ phụ.
PHÉP QUÁN TƯỞNG VÀ NIỆM PHẬT
A.Phép quán tưởng:
i.Chủ đích: Chuyển đổi hiện cảnh thành thiện cảnh, trừ các vọng tưởng, thân tâm định tĩnh.
ii. Sự tu tập:
Trước khi quán tưởng:
Điều hòa ăn uống: Ăn đồ nhẹ, chớ để quá no hoặc quá đói. Ăn đồ nặng thời tâm thần mê mẫn, lâu tiêu; quá đói thời xót bụng ngồi không bền; quá no thời thân thể nặng nề, hơi thở mạnh, gấp.
Điều hòa giấc ngủ: Cần tập ít ngủ để tâm thần được sáng suốt. Khi tập nếu buồn ngủ thời nên nghỉ, nhưng lúc nào cũng cố gắng.
Điều hòa thân thể: Thân thể phải sạch sẽ, rửa mặt cho tỉnh táo. Nếu tắm trước được nửa giờ thì tốt.
Chỗ ngồi, phòng tập: Chỗ ngồi dịu mềm để có thể ngồi lâu mà không tê nhức. Phòng tập nên lựa chỗ rộng, ít hoặc không người. Để ánh sáng lờ mờ. Lựa chỗ an tịnh.
Cách ngồi: Ngồi bán già, xếp chân, để bắp chân trái trên bắp chân mặt (hoặc chân mặt trên chân trái) kéo lại sát bên mình, ngón chân ngang bắp vế; hay ngồi kiết già thời để chân mặt trên bắp chân trái, bàn chân trái trên bắp chân mặt (hoặc trái lại), ngồi kiết già thì được lâu, lưng thẳng. Cách này khó tập hơn. Để bàn tay mặt trên bàn tay trái, uốn mình 5, 7 lần cho giản xương cốt. Ngồi thẳng lưng, không cong đằng trước, không ngã đằng sau. Rồi sửa đầu cho  thẳng,  sống  mũi  thẳng  hàng  với
rún, không xiên bên này, bên kia; mắt ngó thẳng ra đằng trước, không cúi xuống, không ngữa lên; con mắt hơi nhắm lại.
Điều hòa hơi thở: Khi ngồi vừa thẳng và chưa nhắm mắt, nên hít không khí vào mũi rồi thở ra bằng miệng, thở chậm chậm. Thở nhiều lần như vậy rồi mới khép mắt. Đến khi ngồi tập, phải để ý hơi thở, đừng cho quá mạnh, gấp, có tiếng, đừng cho bực tức, không thông, thở một cách thông suốt nhẹ nhàng.
Trong khi quán tưởng
Trì chú: Mật niệm 3 lần chú Tịnh Pháp Giới: "Án lam tóa ha". Mật niệm ba lần chú Tịnh Ba Nghiệp: "Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám".
Quán tưởng: Sau khi nhờ công đức trì chú ba nghiệp thân tâm được thanh tịnh người tu hành bắt đầu quán tưởng. Quán tưởng nghĩa là quán xét những đức tánh của đức Phật. Phật có vô lượng công đức trí huệ, không thể một lần quán hết được; cho nên cần phải lần lượt, thứ lớp quán xét từng đức tánh một tùy theo trình độ và nghiệp lực của mình. Thí dụ, nếu chúng ta thường nhiều sân hận thì khi tu tập nên quán đức tánh từ bi hỷ xả của đức Phật; nếu nhiều mê mờ, sợ hãi chúng ta quán đức tánh trí huệ hùng lực của đức Phật v.v...
Quán tướng: Nếu phép quán tưởng không thể đối trị nghiệp lực vọng tâm, chúng ta có thể tu theo pháp quán tướng. Nghĩa là quán một trong 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp của đức Phật. Ví dụ, chúng ta quán tướng bạch hào của Phật (sợi lông trắng giữa hai chân mày), quán sợi lông trắng dài, bên trong trống lọng, uốn xéo xoay theo chiều phải. Sợi lông ấy do đức Phật qua vô lượng kiếp tu hành  thanh  tịnh  mới  kết  thành như thế. Khi nào tướng ấy hiện rõ ràng trước mặt không mù mờ loạn động, thì phép quán ấy mới thành tựu. Khi thành tựu được phép quán này chúng ta bắt đầu quán pháp tướng khác, cứ lần lượt như thế, cho đến lúc nào và bắt cứ ở đâu, tất cả hình tướng trang nghiêm của Phật đều hiển hiện trước mặt người tu hành, rõ ràng như xem vật giữa bàn tay, tức phép quán tưởng này được thành tựu.
Quán tượng: Nếu tu phép quán tướng không thành, thì nên tu theo pháp quán tượng. Người hành trì thỉnh một bức tượng đức Phật Thích Ca hay đức Phật A Di Đà đầy đủ tướng tốt, để vừa tầm con mắt, cho ánh sáng chiếu vào, đừng quá sáng, cũng đừng quá tối. Nhớ đừng cho ánh sáng vào mắt mình. Mở mắt vừa, chiêm ngưỡng chân dung của bức tượng, quán xét từng tướng một, chuyên tâm quán tưởng hình tượng không còn vọng động tạp niệm. Cho đến lúc nào bất cứ mở mắt hay nhắm mắt, hình ảnh bức tượng ấy đều nghiễm nhiên rõ ràng hiện trước mặt, tức là phép quán tượng này được thành tựu.
Sổ tức quán: Ngoài ba phương pháp trên, còn có phương pháp sổ tức dễ thực hành, và có ảnh hưởng nhiều trong sự đối trị vọng niệm. Sổ tức quán là quán tưởng và đếm hơi thở, theo hơi thở ra vào nhẹ nhàng thong thả, đếm từng tiếng một, đếm xuôi đến con số mình đã định rồi đếm ngược lại. Điều cần nhất là phải chuyên tâm vào hơi thở, không để tạp niệm xen vào. Nếu có quên hay nghi trong những con số mình đếm thì cần phải bỏ, bắt đầu đếm lại như trước cho được rõ ràng. Khi nào tu tập sổ tức quán này mà tâm trí hoàn toàn định tĩnh, tức có thể bắt đầu tập các phép quán khác.
Chú ý: Chủ đích của pháp quán tưởng là diệt trừ vọng tưởng,  làm  cho  tâm trí
được định tĩnh. Kinh luận có rất nhiều pháp môn khác nhau như pháp Ngũ Đình Tâm Quán hay 16 phép quán trong kinh Vô Lượng Thọ. Người hành trì có thể tùy theo hoàn cảnh, khả năng mà chọn lựa và thực hành tu tập.
Cách đối trị: Trong khi tu quán nếu thấy tinh thần mê mẫn, đầu muốn gục xuống, thì phải để tâm nơi chính giữa hai con mắt mà đối trị; nếu thấy tâm loạn động, thân ngồi không vững thời để tâm nơi rún để đối trị; khi trong ngực hơi tức thời nên phóng xả tâm trí, bớt chuyên chú để tâm được nhẹ nhàng khoan khoái; khi tâm chớm lười nhác, thân muốn nghiêng ngữa, miệng chảy nước miếng, phải chuyên chú nhiều hơn. Trong khi ngồi quán tưởng, có thấy cảnh giới gì lạ, không nên sanh tâm mừng hoặc sợ, cần phải luôn luôn nhớ nghĩ rằng vạn pháp đều không thật thì tự nhiên thân tâm khoan khoái nhẹ nhàng, trí huệ phát triển.
3.   Những điểm cần nhớ: Muốn phép quán tưởng được lợi ích, cần phải chú ý các điểm sau đây:
a. Kiên chí: Ngày nào cũng tập tùy theo giờ đã ấn định.
b. Tuần đầu tập ngồi trong vòng 15 phút, tuần thứ hai ngồi nửa tiếng, đến tuần thứ 5, thứ 6 ngồi 45 phút. Cứ tập lần lần và tăng thêm cho đến 1 giờ hay 2 giờ chẳng hạn.
c. Nên tập lúc 4, 5 giờ sáng sau khi thức dậy hay buổi tối trước khi đi ngủ. Nếu chọn được buổi sáng thì tốt hơn.
d. Trong thời gian tu tập, cố gắng đừng để cho những người chung quanh biết, nhất là đừng khoe sự tu tập của mình cho người ngoài.
e. Sau khi ngồi tu quán, nếu cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt, tức buổi tập đó có kết quả đúng pháp.
f. Trong khi tu tập thấy thân tâm có gì thay đổi lạ lùng thời tìm hỏi thầy bạn để khỏi lạc vào tà pháp.
Phép quán niệm Phật:
i.Chủ đích:
Chuyển đổi tà niệm thành chánh niệm, ác cảnh thành thiện cảnh, dứt sạch các vọng niệm, chứng ngộ thực tướng các pháp.
II. Sự tu tập:
1.Trước khi tu tập: Điều hòa ăn uống, giấc ngủ, hơi thở như pháp môn quán tưởng.
2.Quán niệm và trì danh niệm Phật: Pháp niệm Phật có phương pháp trì danh niệm Phật là giản dị và hợp với căn tánh của chúng sanh đời mạt pháp này. Kinh Di-Đà Sớ Sao có câu: "Đường tắt trong các đường tắt" là chỉ cho phương pháp trì danh này. Trì danh niệm Phật là niệm trì danh hiệu đức Phật A Di-Đà, niệm niệm nhớ nghĩ rõ ràng, không để tạp niệm xen vào. Có những phương tiện thực hành như sau:
3.Sổ thập niệm Phật: Cứ mỗi hơi thở ra niệm và đếm 10 câu niệm Phật; khi thở vào cũng như thế; hoặc một hơi thở ra vào niệm và đếm 10 câu niệm Phật (thời gian thực hành cũng như phép quán tưởng trên). Nếu vì nghiệp lực và hoàn cảnh không thể ngồi tu lâu được, thì ít nhất trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy thong thả rõ ràng niệm và đếm 10 danh hiệu Phật trong 10 hơi, làm cho thường sẽ được lợi ích nhiều.
b.Truy đảnh niệm Phật: Câu này nối liền câu kia, chữ trước tiếp chữ sau không gián đoạn, dứt khoảng. Phương pháp này chú trọng sự liên tục, nên bất cứ thở ra hay thở vào, đều phải chú tâm niệm Phật, cứ tiếp-tục như thế cho hết giờ mình đã định.
c.Sổ châu niệm Phật: Cứ niệm một danh hiệu là lần một hạt chuỗi, chuyên tâm không để cho vọng niệm xen vào. Số chuỗi niệm tùy theo nguyện của mình. Ví dụ, nếu nguyện mỗi lần niệm hai chuỗi 108 hột, thì hôm nào cũng như vậy, không được thêm hay bớt, trừ khi bệnh hoặc nguyện niệm thêm.
d.Phản văn niệm Phật: Chú ý nghe rõ từng tiếng niệm Phật của mình, miệng niệm thì tai chú ý nghe, không bỏ sót bất cứ một niệm lớn tiếng hay nhỏ. Chủ đích của phép môn này là chuyên nghe từng tiếng, từng chữ niệm Phật của mình để ngăn trừ các ngoại trần không cho len lỏi vào.
e.Ban châu niệm Phật: Tức là vừa đi vừa niệm hoặc đi kinh hành trong chùa hoặc đi bách bộ trong sân chùa hay ở những nơi có bóng mát.
f.Chuyên niệm niệm Phật: Năm pháp trên là phương tiện tu hành của những lúc ngồi hoặc đi tịnh niệm. Phương pháp chuyên niệm niệm Phật thì bất cứ lúc nào, ở đâu cũng có thể niệm. Niệm trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi; niệm trong thời ăn uống, ngủ nghỉ; hễ tâm khởi động niệm thì niệm Phật. Niệm cho đến lúc nào thành thục, không gián đoạn xen hở. Thực tập cho đến khi nhất tâm bất loạn thì pháp môn này thành tựu.
3Cách thức niệm Phật: Tùy theo hoàn cảnh và căn cơ mà niệm Phật với những phương cách sau đây:
a.Cao thanh niệm Phật: Niệm tụng lớn tiếng, hòa theo điệu mõ thứ lớp điều hòa, tuần tự, theo nghi thức đã định sẵn. Ngày nào cũng tụng, theo thời giờ đã định, không biếng nhác trễ nãi, nhất là phải thành kính trang nghiêm khi đứng trước bàn Phật, và phải chú tâm tưởng nhớ đến Phật. Phương pháp này được thực hành khi nào đông người đồng tụng và ở những nơi rộn ràng không thể tịnh niệm được.
b.Đê thành niệm Phật: Không niệm lớn tiếng, chỉ niệm thầm nhỏ vừa đủ mình nghe. Cách thức này nên dùng trong những lúc ngồi tịnh niệm và khi làm lễ trước bàn thờ Phật một mình, vừa quán tưởng hình dung đức Phật vừa niệm, không để các tà niệm xen lẫn vào.
c.Mật niệm niệm Phật: Không niệm có tiếng như hai cách trên. ở đây chỉ niệm Phật bằng trí, bằng ý tưởng mà thôi, không dùng miệng lưỡi, chuyên tâm quán tưởng hình dung đức tướng và thầm lặng niệm trì danh hiệu Phật. Phương pháp này nên áp dụng trong lúc ngồi tịnh niệm, hoặc lúc đi giữa đường hay đang làm việc và ở những chỗ không có bàn Phật.
4.Thực tướng niệm Phật: Hai phương pháp quán tưởng và niệm Phật trên chỉ là phương tiện để đi đến Pháp thật tướng niệm Phật này. Thực tướng niệm Phật là tìm hiểu chánh lý và thông đạt thực tướng của sự vật. Thực tướng của sự vật là tướng "lý tướng" mà đức Phật đã giác ngộ. Người muốn sống đời sống giải thoát phải đoạn trừ tất cả thiên chấp (có, không, đoạn, thường) để đạt đến lý nghĩa trung đạo. Thâm đạt lý trung đạo (sự thật các pháp) tức là niệm Phật mà không còn phân biệt mình là người niệm và đức Phật là người được niệm. Vì Phật và chúng sanh đều không ngoài tự tâm thanh tịnh, nên niệm Phật tức là niệm giác tính của mình. Ngoài giác tánh ấy không có một đức Phật nào đáng niệm. Niệm Phật đến cho thuần diệu ấy tức là hợp với bản giác thanh tịnh. Ta với Phật không hai không khác, không thấy có phiền não đáng trừ, không thấy có Niết Bàn đáng chứng, tâm hồn trong sáng, từ bi trí huệ. Dùng phương tiện cứu khổ chúng sanh, cũng không cần thấy tướng chúng sanh để độ.  Nói một cách khác, thật tướng niệm Phật tức là giác ngộ sự thật của vạn pháp và sống đúng như thật của Phật.
III. Những điểm cần nhớ:
1.Chọn phương pháp tu quán niệm Phật. Đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà chỉ các phương pháp. Chúng ta khi thực hành tùy theo căn tánh, chỉ nên lựa một pháp môn thực hành cho triệt để; tập từ dễ đến khó và khi thuần thục được pháp nào thì có thể tập pháp khác.
2.Mỗi ngày để dành nửa giờ hay một giờ để niệm Phật, vào buổi tối trước khi ngủ hay buổi sáng sau khi thức dậy. Những giờ ấy thanh tịnh nên tu tập được nhiều kết quả. Hai pháp chuyên niệm và thật tướng niệm Phật thì lúc nào cũng thực hành được.
3.Nên nhớ, người tu niệm sẽ gặp nhiều trở lực, ngoài các hoàn cảnh không thuận tiện còn có nội ma và ngoại ma luôn luôn đến phá và thử-thách. Người hành trì phải rất dõng mãnh tinh tấn mới khỏi bị ma làm thối thất.
4."Phật cao một thước, ma cao một trượng". Các loài ma có thể hiện thành những hiện tượng kỳ lạ để lừa gạt khủng bố người tu hành. Chúng ta cần bình tĩnh sáng suốt để đối trị, để phân biệt tà ngụy.
5.Không nên khởi tâm mừng, cũng như không nên sợ hãi khi thấy những hiện tượng kỳ lạ trong khi tu niệm Phật. Chỉ nên nhứt tâm quán tưởng niệm trì danh hiệu Phật, xem vạn pháp là giả ảnh, không chắc thực.
C. Kết luận:
Pháp quán tưởng và pháp quán niệm Phật là hai pháp môn tu hành hợp với căn cơ chúng sanh hiện đại, và  dễ thực hành.  Chỉ có thực hành mới đúng
như lời Phật dạy. Hàng Phật tử không thể xao lãng, không thể không thực hành một trong hai pháp môn trên được. Sự thực hành ở nơi đây bao trùm cả nghĩa tinh tấn dõng mãnh hành trì, không bao giờ thối thất gián đoạn.
Đừng có nên quá hăng hái lúc ban đầu, đến nỗi sanh bệnh và lạc vào ma đạo. Cần phải giữ mức trung bình, thong thả hướng tiến một cách chắc chắn, mới mong có nhiều kết quả thiết thực. Thực hành hai pháp môn trên tức thực hành năm hạnh: Tinh tấn, hỷ xả, từ bi, thanh tịnh và trí huệ.
QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ CON NGƯỜI
VẤN ĐỀ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT
Đạo Phật chủ trương nhất nguyên hay đa nguyên, duy tâm hay duy vật?
Đứng ngoài đạo Phật thì "vọng tưởng" rằng đạo Phật là nhất nguyên, là đa nguyên, là duy tâm hoặc là duy vật. Nhưng bước vào trong đạo Phật, trong rừng giáo lý để quan sát, người ta sẽ thấy một hiện tượng lạ. Là khi đứng về hướng này, người ta thấy đạo Phật chủ trương nhất nguyên, nhưng khi đứng qua hướng kia, lại thấy rõ ràng đạo Phật chủ trương đa nguyên. Rồi đứng trên miếng đất này, người ta thấy đạo Phật chủ trương duy tâm, nhưng đứng sang miếng đất khác, thì rỏ ràng là đạo Phật chủ trương duy vật.
Quả thật là một sự kỳ lạ. Kẻ nóng tính nghe như thế sẽ bực mình và sẽ cho đó là một lối chủ trương ba phải. Nhưng không. Đứng về phương diện triết học, đạo Phật có những hệ thống lý thuyết rất phong phú, mà tất cả đều đi đến sự nhất trí vô cùng hoàn mỹ.
Chủ Nghĩa Duy Vật:
Chủ nghĩa Duy Vật là một chủ nghĩa cho rằng thực tại chỉ là vật chất. Vũ trụ, nhân loại và sinh vật đều là vật chất, nói một cách tinh vi hơn, đều có cùng một nền tảng chung là vật chất. Cả đến phần tinh ba nhất của loài động vật là tư tưởng, là cảm tình cũng đều do nền tảng vật chất kia mà có. Những tư tưởng và tình cảm ấy không thể phát hiện nếu không có vật chất. Tinh thần cũng là sản phẩm thượng hạng của vật chất, duy có tinh tế hơn những sản phẩm khác như đường, như mật, như sinh tố, như thần kinh hệ ... mà thôi.
Người chủ trương duy vật thường lý luận rằng: chỗ nào không có vật chất thì không thể có tinh thần, do đó tinh thần là do vật chất mà có, tinh thần là một thuộc tính của vật chất.
Ta không cần phải mất thì giờ để bác bẻ cái quan niệm nông cạn và thiên lệch này trong khi mọi người đã thấy cái vô lý của nó rồi. Tuy nhiên cũng cần nói rằng duy vật luận chỉ chú trọng đến phần ngoại giới, xao lãng phần nội giới phong phú sâu xa mà ở đây nhà khoa học chỉ có thể rọi vào những tia sáng ngắn ngủi nhất. Mà dù người duy vật có để ý đến nội giới đi nữa thì vẫn xem nội giới như một đối tượng tầm thường như bao nhiêu đối tượng vật chất khác, dù nhà duy vật cho nó là "một hình thức tinh tế nhất của vật chất". Tinh thần tự đối tượng hóa đã là một việc khó làm, mà tinh thần tự cho mình là thuộc tính của vật chất lại là chuyện khó nghe. Đời thuở nào lại có một thứ thuộc tính kỳ quái có thể "biết" mình là thuộc tính của vật chất.
Còn bảo rằng "chỗ nào không có vật chất thì không có linh hồn" cũng thật lạ lùng. Làm như tai mắt người có thể "thấy" được thứ tinh thần tồn tại độc lập vậy. Tai mắt ta chỉ nhận được sự hiện hữu của tinh thần nhờ những dấu hiệu vật chất. Tinh thần vẫn hiện hữu, nhưng ta không nhận được sự hiện hữu đó nếu ta không nhờ một vài dấu hiệu vật chất, cũng như lúc nào cũng có làn sóng điện, và những âm thanh chở trên các làn sóng điện ấy, nhưng ta chỉ nhận được nhờ sự hiện hữu của các âm thanh được chở trên các làn sóng điện kia nếu ta có một chiếc máy thu thanh.
Chủ nghĩa Duy Tâm:
Chủ nghĩa Duy Tâm chủ trương ngược lại rằng vật chất không phải thực có, vật chất không tồn tại ngoài ý thức chủ quan của con người. Chỉ có ý thức chủ quan là thực tại, còn bao nhiêu cái khác đều là sản phẩm của ý thức chủ quan, đều là những biểu tượng của ý thức, gọi tắt là những "ý tượng". Duy tâm luận chủ trương ngoài tâm lý của mình không còn gì cả; vũ trụ, thế giới, những người khác và chính tâm ý của những người khác cũng không thực tại.
Người duy tâm cũng như những người duy vật cố tình phủ nhận một mặt của sự thực; người duy tâm cố tình làm ngơ không nhận những ảnh hưởng và những tác động của vật chất của sinh lý trên tư tưởng và tâm lý của mình. Những loài hữu tình sống xung quanh ta cũng có những cảm tình, những tư tưởng, nói tóm lại, một tâm lý chủ quan của họ. Trong sinh hoạt thường nhật ai không nhận rõ điều đó. Ta không thể chỉ công nhận có sự tồn tại của tâm ý riêng ta.
Quan điểm của đạo Phật về con người:
Đạo Phật không vướng vào duy tâm, không vướng vào duy vật, nhưng cũng không phải một nhị nguyên thuyết.  Duy thức học đạo Phật chủ trương rằng ngũ uẩn tức là toàn thể những hiện tượng vật lý, tâm lý (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đều là những thứ phát hiện của "chủng tử" tiềm lại trong A Lại Gia Thức (Alya - vinnanaa) mà thôi.
Những hiện tượng tinh thần hay vật chất (sắc pháp hay tâm pháp) đều là đứng về thế hiển phát. Khi chưa hiển phát, chúng cùng về thế tiềm tàng. Đứng về thế tiềm tàng, chúng gọi là "chủng tử" (danh từ của duy thức học). Đứng về thế hiển phát chúng gọi là hiện hành. Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành trở về chủng tử, chủng tử là hiện hành, hiện hành là chủng tử, sự phát hiện nầy được tiếp diễn không ngừng.
Điểm này đòi hỏi chúng ta nhiều kiến thức về duy thức học. Ở đây chúng ta chỉ lược qua đại cương. Chủng tử là một thứ "năng lực" làm bản chất cho tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lý, nghĩa là cho mọi hiện hành. Mà toàn thể chủng tử nằm gọn trong A Lại Gia Thức, hoặc một cách khác, toàn thể chủng tử là A Lại Gia Thức. Vậy A Lại Gia Thức là căn bản cho mọi hiện tượng Tâm và Vật.
Mỗi hiện tượng (tâm lý hay vật lý cũng vậy) khi tàn hoại thì trở về chủng tử để rồi phát sinh hiện hành khác. Nói thế cho dễ hiểu, kỳ thực vì mỗi hiện hành sinh diệt trong từng giây phút, nên hiện hành luôn luôn trở về chủng tử và chủng tử luôn luôn trở về hiện hành. Sự liên tục mau chóng quá đến nỗi ta không nhận ra kịp thời đó thôi.
Các hiện hành sinh khởi cách nào? Sinh khởi theo luật tương quan tương duyên. Ví dụ: ý thức, lý trí, tình cảm sinh khởi nhờ vào các hiện tượng sinh lý vật lý. Nương vào để được phát sinh mà thôi, chứ không phải các hiện tượng sinh lý vật lý "sinh ra" các hiện tượng tâm lý. Hiểu như thế, ta không còn cho tâm sinh lý, hay vật sinh tâm nữa. Chúng nương vào nhau mà tương thân tương thành, và do chủng tử ở A Lại Gia. Chủng tử là "thân nhân duyên" nghĩa là những nhân chính, còn các hiện tượng giúp chúng phát sinh thì gọi là "tăng thượng duyên" nghĩa là các điều kiện thuận lợi giúp cho sự phát sinh ấy.
Nguyên nhân chính của mọi hiện tượng, như thế, tức là chủng tử. Nhưng gọi là nguyên nhân cũng không đúng hẳn; phải gọi là bản chất. Vậy chủng tử trong duy thức học được xem như là một thứ "năng lực" làm nền tảng cho cả hai loại hiện tượng Tâm và Vật.
Tất cả chủng tử, hiện hành gom góp chung lại gọi là A Lại Gia.
Sau khi thân xác tiêu hoại, thiếu điều kiện để "hiện hành", các hiện tượng tâm lý trở về tiềm thức nơi A Lại Gia. Như thế, không có một linh hồn tồn tại ngoài thể xác. Cái tác dụng tinh thần kia, sự hiểu biết phân biệt yêu ghét kia không hiện hành nữa, thì sao gọi là có linh hồn được. Tuy nhiên A Lại Gia Thức sẽ biến chuyển, chín muồi, để đem tất cả năng lực chủng tử mà phát hiện ra một thế giới mới, một hoàn cảnh mới, môt sinh mệnh mới.
Nghe nói thế, có người sẽ cho rằng đạo Phật đã rơi vào duy tâm. Nhưng không, không có một A Lại Gia tồn tại độc lập. Mà có nhiều A Lại Gia của nhiều chúng sanh. A Lại Gia này tồn tại nhờ sự hiện tồn của A Lại Gia khác, và các A Lại Gia khác cũng tồn tại nhờ A Lại Gia này. Tất cả đều vâng theo luật tương quan tương duyên mầu nhiệm.
Ý thức chủ quan của ta nắm gọn trong A Lại Gia. Thế giới khách quan tồn tại ngoài ý thức ấy, nhưng không phải chỉ là một thế giới hiện hành của riêng A Lại Gia ta, mà là một thế giới hiện hành do vô số A Lại Gia cọng đồng kiến tạo. Điểm này ta sẽ thấy rỏ ràng trong giáo lý tự biến cọng biến của duy nghiệp luận. Chỉ khi nào A Lại Gia trong sạch, sáng suốt do công phu tu luyện mà trở thành Đại Viên Cảnh Trí, nó mới tách rời ra khỏi cọng đồng ấy và thể nhập về biển Bản Thể vô cùng rộng lớn thanh tịnh và sáng suốt.
QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ VŨ TRỤ
VẤN ĐỀ NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN
Vấn đề nguyên nhân đầu tiên là một vấn đề thường làm cho con người ta thắc mắc nhiều nhất. Cũng bởi vì nổi khổ đau thắc mắc ấy mà các thần giáo ra đời. Mỗi thần giáo chủ trương một vị thần linh tối cao tối đại tạo lập nên trời đất và muôn vật. Đó là Brahma, là Allah, là Jéhovah, là Thượng Đế, là Chúa Trời... Bản thể của các vị chúa tể ấy, loài người không thể hiểu thấu được. Quyền phép tạo lập, cứu vớt và trừng phạt của các vị ấy, trí óc loài người không thể kiểm soát được. Về các vị ấy, người ta không thể dùng lý trí để suy luận, chỉ có thể đem một lòng Tin để thừa nhận mà thôi.
Lòng Tin ấy chính là sự vỗ về an ủi, một "liều thuốc tê" để con người có thể dịu lại trí não đang bị căng thẳng, đang bị khổ đau vì những câu hỏi kia.
Công nhận một đấng tạo hóa, tức là chận đứng sự hiểu biết của con người lại. Người xưa, khi trông thấy những hiện tượng kỳ bí của vũ trụ, họ không thể cắt nghĩa được các hiện tượng một cách khoa học mà chỉ nghĩ rằng đó là những gì mà các lực lượng siêu nhiên, thần bí đã tạo ra. Gió thổi là bởi thần gió đi qua. Nước ngập là bởi thần thủy giận dữ. Nếu khoa học chấp nhận lối trả lời đó thì làm sao khoa học có thể tiến lên mà cắt nghĩa bằng thuyết nhân duyên sinh rằng gió là do kết quả của sự chuyển động không khí, lụt là do nước nguồn chảy về quá nhiều?
Đạo Phật chủ trương không có nguyên nhân đầu tiên Ý niệm về nguyên nhân đầu tiên là một "vọng tưởng điên đảo" do sự cố chấp mê lầm của chúng sinh mà có. Nếu hiểu được giáo lý đạo Phật, ta sẽ thấy câu hỏi "nguyên nhân đầu tiên là gì?" là một câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, không đáng làm cho chúng ta thắc mắc.
Theo đạo Phật, các hiện tượng vũ trụ luôn luôn biến chuyển và sinh diệt, không lúc nào dừng nghỉ. Sự sinh diệt của những hiện tượng ấy được thể hiện trên đường lối nhân duyên (paticca samuppada). Một hiện tượng phát sinh, không những chỉ do một "nhân" tiền hữu, mà còn do vô số các "duyên" (điều kiện giúp cho sự phát sinh) khác. Các duyên này cũng không phải tự nhiên mà có. Chúng cũng là "quả" do vô số "duyên" khác tạo nên. Như thế, "một" hiện tượng có liên quan (dù gần hay xa) với "tất cả" các hiện tượng của vũ trụ.
Nói "hiện tượng" đây tức là nói một "dòng hiện tượng". Bởi vì khi nói đến hiện tượng, ta thường nghĩ đến cả lịch trình phát sinh, trưởng thành, hư hại, và tan rã (thành, trụ, hoại, không) của hiện tượng ấy. Có thành, trụ, hoại, không tức là có chuyển biến, mà có chuyển biến thì cố nhiên nó không phải là "một" hiện tượng đồng nhất bất biến. "Nó" là một "dòng hiện tượng", bởi vì "nó" của phút sau đã không phải "nó" của phút trước. Với lại, trước khi "nó" (dòng hiện tượng) phát hiện, ta bảo rằng chưa có "nó". Kỳ thực, "nó" đã có muôn ngàn nhân duyên tiền hữu rồi, sở dĩ ta không nhận được "nó" là vì ta không thấy được "nó" bằng cặp mắt thiển cận mà thôi.
Bạn tôi có "ráp" một cái xe đạp ở Saigon từ năm 1945 tại hiệu Dur-Ford, giá 400đ. Cái xe ấy cũ dần, hư dần, bạn tôi đã thay mấy ổ líp, nào niềng, nào lốp, nào vỏ, nào tăm. Bạn tôi lại thay cả tay lái, và vừa rồi, gảy khung xe, bạn tôi liệng vào xó hè, không dùng nữa. Bạn tôi chỉ nó mà bảo tôi: "Đó là chiếc xe tôi mua ở Saigon năm 1945 giá 400đ đây". Bạn tôi không ý thức được sự thay đổi của chiếc xe kia và vẫn một mực "đồng nhất" cái xe năm nay với cái xe trước đây 12 năm. Lẽ ra trong "quá trình" biến chuyển của chiếc xe, bạn tôi phải thấy chiếc xe hôm sau khác với chiếc xe hôm trước, và hơn thế nữa, chiếc xe phút sau khác với chiếc xe phút trước...
Tệ hơn nữa là bạn tôi cho rằng chiếc xe chỉ "có" từ khi bạn tôi mua và "hết có" từ khi nó gảy khung. Bạn tôi không biết rằng chiếc xe đã "có" từ trước khi bạn tôi mua, và hơn nữa, "có" từ vô thỉ, trong các nhân và duyên của nó. Bạn tôi lại cũng không biết rằng cái xe vẫn "có" sau khi nó gảy khung, hư hoại nằm sau xó hè. Nó nằm đó, nằm mãi đó để biến chuyển, để tiếp tục dòng đăng lưu nhân quả của nó, tương quan và tương duyên với vạn vật khác. Con của bạn tôi sẽ tháo một cái chuông lắp vào xe nó, biết đâu. Cháu của bạn tôi sẽ tháo cái tăm để mài nhọn, làm chiếc dùi đóng sách, biết đâu. Và biết đâu đống sắt còn lại ấy sẽ "luân hồi" vào một dụng cụ khác bằng kim khí...
Bạn tôi chấp rằng chỉ có một cái xe đồng nhất bất biến, mà kỳ thực, chỉ có một hiện tượng "xe" luôn luôn chuyển biến. Đó là "vọng tưởng" thứ nhất.
Bạn tôi, vì cái ý thức vụ lợi, chỉ cắt xén một giai đoạn của thực tại để mà cho rằng "có", và cho tất cả những giai đoạn trước và sau đều là "không". Cái quan niệm về có và không sai lạc ấy là một "vọng tưởng" thứ hai.
Hai thứ vọng tưởng kia phản chiếu một nhận thức sai lầm chung cho tất cả mọi người.
Muôn vàn hiện tượng có biến chuyển, vì thế có sinh diệt thành hoại, nên ta cảm thấy cái có và cái không của vạn vật. Quan niệm về có và không của chúng ta hoàn toàn do sự sinh diệt của ngàn muôn hiện tượng mà có. Kỳ thực, muôn ngàn hiện tượng chỉ kế tiếp nhau mà phát hiện theo luật tương quan tương duyên, cái có và cái không của chúng chỉ là giả tưởng do trí óc "vọng tưởng" của ta tạo ra. Không có gì thêm vào, không có gì bớt đi. Vậy thì có và không chỉ là những giả tưởng của các hiện tượng sinh diệt. Trí óc ta nhận "có", là khi thấy được một hiện tượng do nhân duyên cấu hợp; trí óc ta nhận "không" khi ta thấy hiện tượng ấy theo nhân duyên mà tan rã. 
Về các hiện tượng, ta phân biệt có thỉ, có chung, có nhân, có duyên, có lớn, có nhỏ. Nhưng những danh từ thỉ chung, nhân duyên, lớn nhỏ ấy không thể gán cho vũ trụ, cho thực tại, cho bản thể. Hiện tượng tuy còn mất sinh diệt, bản thể vẫn bất biến, trường tồn. Thực tại là một cái gì vượt ra khỏi sinh diệt, tồn vong, không có. Thế mà người ta nở nào xem thực tại như là những hiện tượng có sinh diệt, có thỉ chung, và bắt trí óc phải tìm ra "nguyên nhân đầu tiên" của nó.
TÁM CHÁNH ĐẠO (Bát Chánh Đạo)

Muốn chúng sanh đoạn diệt phiền não để đạt đến cảnh giới Niết Bàn, đức Phật thuyết minh Tám Chánh Đạo. Tám chánh đạo là một phương pháp giản dị hợp với lối sống tâm lý hành-động hàng ngày của chúng sanh.
i.   Định nghĩa:
Tám Chánh Đạo là con đường chân chánh có tám ngành, giúp chúng sanh tiến đến đời sống hoàn toàn.
II.  Hành tướng:
1.Chánh kiến (Samma Ditthi):  Nhận thức sáng suốt và hợp lý.
a.Kiến thức chân chánh
1.Nhận thức mọi vật là kết hợp của nhiều nhân duyên, không trường tồn và sẽ biến diệt.
2.Nhận rõ quả báo của mọi hành vi và ý niệm.
3.Nhận rõ giá trị sự sống của mình, người và muôn vật.
4.Nhận rõ mọi chúng sanh có cùng bản thể thanh tịnh.
5.Nhận rõ nghiệp báo thiện ác để thực hành hoặc tránh xa.
6.Nhận thức đạo lý chân chánh để làm đích hướng tiến.
b.Kiến thức sai lầm
1.Cho sự hiện hữu của vạn vật là tự nhiên.
2.Chấp nhận Thượng đế và phủ nhận nhân quả nghiệp báo.
3.Chủ trương định mệnh, phủ nhận kết quả của hành nghiệp.
4.Quan niệm giai tầng và đẳng cấp để ngăn cách giữa người với người hoặc người với vật.
5.Chấp theo thần thoại, mê tín dị đoan.
Chánh tư duy (Samma Sankappa):  Có nghĩa là suy nghĩ chân chánh. Đó là suy nghĩ có lợi cho mình và cả cho người.
a.Suy nghĩ chân chánh
1.Suy nghĩ giới, định, huệ để tu tập giải thoát.
2.Suy nghĩ nguyên nhân đau khổ của chúng sanh để giải thích và khuyến tu.
3.Suy nghĩ những hành vi lỗi lầm và tâm niệm xấu xa để sám hối, cải đổi.
b.Suy nghĩ không chân chánh
1.Suy nghĩ tà thuật để mê-hoặc mọi người.
2.Suy nghĩ những phương cách sâu độc để hại người, hại vật.
3.Suy nghĩ mưu cơ trả thù oán.
4.Suy nghĩ tài sắc, danh vọng.
Chánh ngữ (Samma Vaca): Lời nói ngay thật chân chánh. Đó là những lời nói lợi ích chánh đáng.
a.Lời nói chân chánh
1.Nói thành thật và sáng suốt.
2.Nói ngay thẳng không thiên vị.
3.Nói hòa nhã, rõ ràng và giản dị.
4.Nói lợi ích, dung hòa, khuyến tấn và duy nhất.
b.Lời nói không chân chánh
1.Lời nói dối trá, không đúng sự thật.
2.Nói không ngay thẳng, thiên vị, dua nịnh, xuyên tạc, ngụy biện.
3.Nói sâu độc, đay nghiến, nguyền rủa, mắng nhiếc, vu họa và thô tục.
4.Nói chia rẽ, di hại cho mọi người, mọi vật.
4.Chánh nghiệp (Samma Kammanta): Hành động chân chánh. Nghĩa là hành vi động tác cần phải sáng suốt chân chánh, có lợi ích.
a.Hành động chân chánh
1.Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống và hạnh phúc chung của người và vật.
2.Tôn trọng nghề nghiệp và tài sản mọi người.
3.Giữ hạnh thanh tịnh, không đàng điếm trác táng.
4.Biết phục vụ chức nghiệp tận tâm với việc làm.
5.Biết hy sinh chính đáng để giải thoát nỗi khổ cho mình và người.
b.Hành động không chân chánh
1.Sát hại tàn bạo.
2.Trộm cắp xâm đoạt.
3.Sống xa hoa trác táng.
4.Sáng chế khí cụ mãnh lợi để sát hại.
5.Chế hóa vật giả để dối hoặc mọi người.
6.Lợi dụng văn nghệ để kích thích sự đàng điếm ăn chơi trác táng.
Chánh mạng (Samma Ajiva): Sinh sống chân chánh là nghề nghiệp để sanh sống chánh đáng, lương thiện không bạo tàn, hèn mạt.
a.Mạng sống chân chánh
1.Tận lực làm việc để sanh sống nhưng không tổn hại đến người và vật.
2.Đem tài năng chân chánh để sinh sống chứ không giả dối, lừa gạt.
3.Sống thanh cao, không lòn cúi vô lý.
4.Sống đúng chánh giáo, không nên dị đoan.
b.Mạng sống không chân chánh
1.Làm thương hại chúng sanh.
2.Xem sao, tính vận, bói xăm, giò quẻ để sống.
3.Chìu chuộng quyền quý, mối lái giao dịch và miệng lưỡi để sanh sống.
Chánh tinh tấn (Samma Vayama): Siêng năng chân chánh là siêng năng làm việc có lợi cho mình, cho người.
a.Siêng năng chân chánh
1.Thấy mình có tội ác, lỗi lầm siêng năng sám hối trừ bỏ.
2.Tội ác và lỗi lầm chưa sanh siêng tu các pháp lành để giữ gìn ngăn đón.
3.Thấy mình chưa có phước nghiệp, siêng năng và cố gắng đào tạo phước nghiệp.
4.Đã có phước nghiệp, siêng năng duy trì và tiến triển thêm lên.
b.Siêng năng không chân chánh
1.Siêng năng sát hại.
2.Siêng năng gian xảo, trộm cắp.
3.Siêng năng đàng điếm.
; 4.Siêng năng dối trá, xuyên tạc, dua nịnh.
5.Siêng năng rượu chè, xa hoa ...
7Chánh niệm (Samma Sati): Là nhớ nghĩ chân chánh. Nhớ nghĩ quá khứ và quan sát cảnh hiện tại và sắp đặt tưởng tượng cảnh tương lai.
a. Nhớ nghĩ quá khứ
1.Nhớ ơn cha mẹ thầy bạn để báo đáp.
2.Nhớ ân nước nhà để phụng sự bảo vệ.
3.Nhớ ơn chúng sanh giúp đỡ để đền trả.
4.Nhớ ân Phật Pháp Tăng để tu hành.
5.Nhớ lỗi lầm xưa để sám hối cải đổi.
b.Nhớ nghĩ không chân chánh
1.Nhớ khuyết điểm của người để chế diễu, phê bình.
; 2.Nhớ lại oán hận cũ để phục thù.
; 3.Nhớ lại dục căn xưa để lung lạc ý chí.
4.Nhớ lại hành động xảo trá và tàn bạo để hãnh diện tự đắc.
c.Quán niệm chân chánh
1.Quán niệm từ-bi: Quán niệm cảnh đói khổ, tật, bệnh, và tối-tăm của chúng sanh trong hiện tại và vô số tai nạn xảy ra trong tương lai, sanh tâm thương xót, giúp đỡ, và tìm phương cách đề phòng che chở.
2.Quán niệm trí huệ: Quán niệm nguyên nhân sanh hóa của vũ trụ vạn vật, hữu tình, vô tình, oán, thân, tốt xấu... để tự tu và khuyến giáo được rõ ràng, thuận lợi, giải thoát.
d.Quán niệm không chân chánh
1.Nhớ nghĩ sắc vọng.
2.Nhớ nghĩ phương tiện sát hại.
3.Nhớ nghĩ độc kế thâm mưu.
4.Nhớ nghĩ văn tự xảo trá.
5.Nhớ nghĩ cao lương mỹ vị.
Chánh định (Samma Samadhi): Tu tập thiền định chân chánh, không nên tu tập các môn thiền định không chân chánh.
a.Thiền định chân chánh
1.Bất tịnh quán: Quán các pháp không thanh tịnh để trừ tham dục ai ái.
2.Từ bi quán: Quán tất cả chúng sanh đều đồng một chân tâm, bình đẳng không khác để tăng trưởng kính tâm và thương xót cứu độ, đoạn trừ tâm hận thù.
3.Nhân duyên quán: Quán tất cả các pháp: hữu hình như sự vật, vô hình như tâm niệm, lớn như núi, nhỏ như vi trùng; nếu có một pháp riêng cũng đều là giả hợp duyên sanh, không chân thật. Quán như vậy để đoạn trừ ngu si thiên chấp.
4.Giới phân biệt quán: Phân biệt và quán sát sự giả lập của 18 giới (6 căn, 6 trần, 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp, mục đích trừ ngã chấp và pháp chấp.
5.Sổ tức quán: Quán hơi thở ra vào để đối trị tâm tán động ly loạn.
b.Thiền định không chân chánh
1.Tu diệt tận định (diệt hết biến hạnh của 7 thức) cầu chứng quả Niết bàn giả danh.
2.Tu vô tướng định (diệt hiện hành 6 thức trước) cầu an vui các cõi trời, ngoại đạo.
3.Tu thiền định để luyện đơn, vận khí ... cầu thần thông, trường sanh phép lạ, tu tiên, ngoại đạo...
iii. Phân loại:
1.Tín(Saddha): Chánh kiến và chánh tư duy.
2.Giới (Sila): Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.
3.Định (Samadhi): Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Công năng:
Cải thiện tự thân: Tất cả hành vi bất chánh, ngôn ngữ đảo điên và ý-niệm mê-mờ đều do con người đi ngược tám chánh đạo. Trái lại, nếu con người tu theo tám chánh đạo sẽ hoán cải được tất cả và tạo cho tự thân một đời sống chân chánh, lợi ích và thiện mỹ.
Cải tạo hoàn cảnh: Hiện cảnh là hình thành của tâm niệm, là kết quả của hành vi. Nếu hành động theo tám chánh đạo, hiện cảnh thế gian sẽ an lành và tịnh lạc.
Làm căn bản cho chánh giác Tám chánh đạo là căn bản đầu tiên cho sự giác ngộ chân chánh của chư Phật. Phật tử muốn hướng tiến đến cực quả tốt đẹp phải theo tám chánh đạo.
Lợi ích:
Thực hành tám chánh đạo sẽ có những lợi ích:
1.Kiến thức chân chánh không bị mê hoặc điên đảo.
2.Suy nghĩ chân chánh không bị mê lầm đen tối.
3.Lời nói chân chánh sẽ lợi mình lợi người.
4.Hành động chân chánh sẽ không tổn người, hại vật.
5.Đời sống chân chánh sẽ được mọi người kính nể.
6.Siêng năng chân chánh sẽ được kết quả khả quan.
7.Nhớ nghĩ chân chánh hoàn toàn nhận cảnh thâu hoạch nhiều kết quả tốt.
8.Thiền định chân chánh thì trí huệ dũng phát và Phật quả dễ thành tựu.
Kết luận:
Tám chánh đạo trình bày các nguyên tắc chánh đáng để áp dụng trong mọi trường hợp của sự sống, để cải thiện mọi xấu xa và tội lỗi của chúng sanh. Tám chánh đạo là nền tảng chánh giác, là căn bản giải thoát.
Người Phật tử cần phải học và thực hành tám chánh đạo để cải thiện đời sống bản thân, hoàn cảnh xã hội và để được giác ngộ như chư Phật.
TÁM QUAN TRAI (Bát Quan Trai Giới)
I. Định nghĩa:
Quan là đóng, Trai (Posadha) có nghĩa là qua 12 giờ trưa. Tám quan trai giới là sự giữ gìn cho thân tâm thanh tịnh trong 24 giờ bằng cách thực hiện tám giới luật sau:
1. Không được sát sanh
2. Không được trộm cướp
3. Không được dâm dục
4. Không được nói dối
5. Không được uống rượu
6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát
7. Không được nằm giường cao rộng đẹp đẽ
8. Không được ăn quá giờ ngọ.
Tu Tám Quan Trai có nghĩa là thệ nguyện tập sống cuộc đời của những bậc tu hành trong vòng 24 giờ bằng cách thọ trì tám giới nói trên.
II.Hiểu rõ tám giới:
1.Không sát sanh: Đem niềm vui đến với mọi loài, giúp chúng sanh sống hạnh phúc, tránh giết hại hoặc khuyên người khác đừng giết hại.
2. Không trộm cắp: Không trộm cắp, không nghĩ đến sự trộm cướp và luôn nghĩ đến bố thí. Không làm cho người chung quanh đau khổ vì mất của cải của họ.
3. Không dâm dục: Không hành động cũng như không nghĩ đến những điều dâm dục. Tâm được thanh tịnh, thân khỏi ô uế. Đối với người bạn trăm năm, cùng những người chung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
4. Không nói dối: Không nói sai, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác cũng như khuyên răn những người chung quanh giữ giới. Giữ chữ tín.
5. Không uống rượu: Rượu làm say mê, tối tăm trí não.
6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và đi xem múa hát: Quán về thân. Năm giác quan: tai, mắt, mũi, lưỡi, thân có thể mở đường cho chúng ta đến Niết Bàn hay vào địa ngục.
7. Không được nằm giường cao đẹp, rộng lớn: Tập dần đức tính giản dị, đạm bạc.
8. Không được ăn quá giờ ngọ: Trong luật Phật dạy: "Chư Thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư Tăng học Phật phải ăn đúng giờ ngọ".
Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi ích sau:
- Ít mống tâm sai quấy
- Ít buồn ngủ
- Dễ được nhất tâm
- Ít hạ phong
- Thân được yên ổn và ít sanh bệnh.
III. Cách thức thọ tám quan trai:
Pháp quan trai nên được tổ chức trong những ngày trai, hoặc trong những ngày nhàn rỗi, thời hạn 24 tiếng. Nên tổ chức tại một ngôi Chùa hoặc Niệm Phật Đường thanh tịnh. Trong trường hợp không có Chùa hay Niệm Phật Đường thì chúng ta có thể tổ chức tại nhà.
Thọ giới Tám quan trai có thể:
1.Giới sư truyền thọ: Có nghĩa là có thầy chứng minh truyền thọ và chúng Tăng hộ niệm. Trước khi thọ giới phải tắm rửa sạch sẽ và làm lễ sám hối những tội lỗi đã phạm để thân tâm thanh tịnh, rồi các giới tử tự thân hành đến cầu thỉnh vị Chứng minh làm lễ bạch Phật cầu truyền thọ ba quy y và tám quan trai giới. Trong khi lễ, cần phải trang nghiêm thành kính nhứt tâm nghe vị Chứng minh truyền giới, trả lời những câu hỏi và đọc những lời phát nguyện do vị Chứng minh chỉ bày.
Trong ngày thọ tám quan trai giới, giới tử cần phải giữ gìn thân, khẩu, ý cho thanh tịnh, không được phạm giới và tự xem mình như đã xuất gia, nhất là không nghĩ việc ngoài đời. Siêng năng tụng kinh, niệm Phật không để tâm dong ruỗi bên ngoài mà cầu chư Phật gia hộ cho Bồ Đề tâm ngày một tăng trưởng.
2.Tự phát nguyện thọ trì: Nếu không có Tăng Chúng hoặc không thể đến Chùa có thể tự mình thọ trì Pháp quan trai này. Giới tử tự mình đứng trước bàn Phật đọc những câu tự mình thọ giới như sau:
Đệ tử tên là .... quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, xin một ngày một đêm thọ Ưu Bà Tắc (hoặc Ưu Bà Di) tám phần trai giới. Như Lai bậc Chí chơn chánh giác, là Thế Tôn của con. (3 lần).
Đệ tử quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi xin một ngày một đêm Ưu Bà Tắc (Ưu Bà Di) tám phần trai giới. Như Lai bậc chi chơn chánh giác là Thế Tôn của con (3 lần).
"Như các Đức Phật suốt đời không sát sanh, Đệ tử xin nguyện một ngày một đêm không sát sanh"...  Cho đến giới thứ tám cũng đọc như vậy. Cách tu tập cũng như cách trên.
IV. Công đức thọ tám quan trai giới:
Người thọ Tám quan trai giới nhờ hoàn cảnh thuận tiện tinh tấn tu hành nên ba nghiệp thanh tịnh không làm các nghiệp ác, đồng thời các điều thiện do đấy được phát triển. Nhờ thọ trì giới luật và chí tâm niệm Phật nên tâm trí được định tĩnh không còn vọng tưởng, gieo chủng tử vô lậu giải thoát. Đức Phật dạy: "Người nào tinh tấn thọ trì Tám quan trai tức hiện tiền được tăng trưởng vô lậu phước huệ, sau lâm chung khỏi bị sa vào các đường ác, được sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu đem công đức hồi hướng tất cả chúng sanh tức được phước quả vô lượng và chứng được quả Vô Thượng Chánh Giác".
V.Kết luận:
Người thọ Tám quan trai giới không còn làm bất cứ việc ác hại nào, cánh cửa ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) bị đóng chặt lại. Vì không tự chủ được mình, vì vô minh che lấp, vì tham muốn nhục dục con người cứ mãi tạo bao điều ác nghiệp, cánh cửa tam ác đạo kia tự mở, rồi tự mình bước vào và chịu bao quả báo đau khổ. Tu Tám quan trai giới trong một ngày một đêm, thanh tịnh thân tâm, phòng hộ giữ mình, tuy chưa xuất ly tam giới ngay được, nhưng nhờ nương công đức trai giới này, gieo trồng hạt nhân xuất thế thù thắng, tương lai chắc chắn sẽ được giải thoát. Chư Phật vì muốn hóa độ chúng sanh nên chỉ bày pháp môn này, là Phật tử chúng ta cố gắng nương theo và tu tập.
THIỆN ÁC NGHIỆP BÁO
Con người sinh ra mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi tính tình. Nguyên nhân chỉ vì mỗi người tạo nghiệp riêng biệt, và chính nghiệp tác động và chi phối tất cả.
I. Định nghĩa:
Thiện là lành, là tốt, là việc gì có lợi cho mình cho người ở hiện tại và tương lai. Ác là dữ, là xấu, là việc gì có hại cho mình cho người ở hiện tại và tương lai. Nghiệp là những hành động về thân, khẩu, ý. Báo là kết quả do nghiệp nhân tạo tác.
II. Quan niệm về thiện ác:
Thiện ác không được minh định rõ ràng, thiện ác theo nghĩa thế gian và thiện ác theo Phật giáo có những sai khác.
1.Thiện ác theo phong tục: Tùy theo phong tục, đúng với thói quen là thiện, dầu trái với lẽ phải. Ví dụ, một vài dân tộc Phi châu, giết cha mẹ khi đã già để ăn thịt là thiện. Người Việt Nam, giết trâu bò làm lễ cúng khi cha mẹ chết là thiện. Phong tục mỗi xứ mỗi khác. Nhắm mắt theo phong tục là thiện, trái lại là ác.
2.Thiện ác theo hình luật: Hình luật cốt đem lại trị an trong một nước. Những việc gì theo hình luật là đúng. Như vậy những điều ác chưa hẳn là ác, và những điều thiện chưa hẳn là thiện. Vì lợi ích cho dân trong nước mà có thể mưu hại cho dân của nước khác.
3.Thiện ác theo thần giáo: Các thần giáo thường dạy: "Kính mến các vị thiên thần tạo hóa là thiện, không tin là ác. Mỗi thần giáo có một vị thiên thần, tạo hóa khác nhau, làm cho người không biết lấy gì làm thiện ác.
4.Thiện ác theo Phật giáo: Phật giáo quan niệm, những gì hợp lý và lợi ích cho người và cho mình trong hiện tại và tương lai là thiện. Trái lại là ác.
III. Phân loại:
1.Hữu lậu ác Là những hành động độc ác khiến loài người bị đọa trong sự luân hồi sanh tử. Hữu lậu ác thì nhiều nhưng không ngoài 5 điều nghịch và 10 điều ác.
a.Năm điều nghịch: Giết cha, giết mẹ, giết các vị A-La-Hán, phá hòa hiệp Tăng và làm thân Phật chảy máu.
b.Mười điều ác: Sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời độc ác, tham, sân, si.
2.Hữu lậu thiện Làm những điều lành. Có thể làm cho người và mình hưởng những quả báo lành nhưng chưa giải thoát con người ra khỏi luân hồi sanh tử.
a.Chỉ ác: Là đừng nghĩ, không làm các việc ác, như không làm năm điều nghịch và 10 điều ác.
b.Tác thiện: Làm 10 điều lành: Phóng sanh, bố thí, tịnh hạnh, nói lời chân thật, nói lời ngay thẳng, nói lời dịu ngọt, nói lời phân giải, từ bi nhẫn nhục, suy nghĩ chánh lý.
3.Vô lậu thiện Làm những việc thiện mà không có ngã chấp, không hy-vọng quả báo, thuận tánh khởi dụng, thuận với thực tướng, rõ suốt viên lý.
IV.     Hiễu biết về nghiệp:
1.Phân loại theo nhân:
- Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
2.Phân loại theo quả:
a.Hữu lậu nghiệp: Nghiệp khiến người trôi lăn trong sanh tử.
b.Bất động nghiệp: Nghiệp của hàng chư Thiên ở sấc giới và vô sắc giới.
.
c.Bất tư nghì nghiệp: Nghiệp của các vị đã thấu rõ chân tâm. Tuy không mắc vào nghiệp nào mà có thể hiện ra hóa thân trong vô số nghiệp mà độ sanh.
d.Dẫn nghiệp: Nghiệp dẫn dắt các người chịu quả báo vào một loại nào đó.
3.Sức mạnh của nghiệp:
a.   Hành động và tánh tình của người do nghiệp chi phối.
b.   Hoàn cảnh của một dân tộc hay của một người đều do nghiệp chi phối.
c.   Nghiệp lực chi phối đi đầu thai: Con người khi chết mang theo sức mạnh những hạnh nghiệp của người ấy đã tạo tác trong đời này hay các đời trước. Nghiệp đó chi phối con người đi đầu thai.
- Tích lũy nghiệp: Nghiệp chất chứa từ đời này qua đời khác.
-Tập quán nghiệp: Nghiệp tạo thành từng tập quán trong một đời.
- Cực trọng nghiệp: Những đặc biệt, quan trọng lấn lướt các nghiệp khác.
- Cận tử nghiệp: Nghiệp tạo ra trong lúc con người gần đến sự chết.
V. Hiểu biết về báo:
1.Phân loại:
a.Chánh báo: Kết quả về tự thân, thân thể, tánh tình, cảm giác, tư-tưởng do những nhân tạo tác ra.
b. Y báo: Là kết quả báo ứng về hoàn cảnh của từng người hoặc từng dân-tộc.
2.Thời gian trong quả báo:
a.Hiện báo: Nghiệp nhân có ngay quả báo trong một đời.
b. Sanh báo: Nghiệp nhân đời này, đời kế có quả báo.
c. Hậu báo: Nghiệp nhân đời này nhiều đời sau mới có quả báo.
3. Quả báo với ảnh hưởng tự tâm:
a.Quả báo tự tâm: Người bắn chết con chim. Hành vi đó huân tập tính háo sát tự nơi tâm.
b.Quả báo đối đãi: Con chim vì bị giết, nếu sau này trong một đời khác có đủ điều kiện sát hại lại. Đó là quả báo đối đãi.
4.Các quả báo tự tâm:
a.Vô tâm:
1) Làm một việc lành nhưng vô tâm mà làm thì không có quả lành nơi tự tâm.
2) Làm một việc lành, nhưng vô tâm sau biết lại tiếc nuối thì chỗ huân tập nơi tự tâm là phần ác.
3)Làm một việc ác, nhưng vô tâm thì không có quả báo nơi tự tâm. Mặc dầu phần đối đãi vẫn có.
4)Làm việc ác, nhưng vô tâm, sau biết hối hận phát tâm đại bi thì chỗ huân tập nơi tự tâm lại là phần thiện.
b.Hữu tâm:
1)Làm việc lành cầu danh lợi, mặc dầu có quả đối đãi vẫn là thiện nhưng về tự tâm bị huân tập về đường ác.
VI.Liên hệ giữa nghiệp nhân và quả báo:
1.Lý quả báo thiện ác là một định luật tự nhiên, chi phối hành vi con người và chỉ là một chi tiết của lý Nhân quả.
2.Con người có thể thay đổi quả báo của mình.
VII. Kết luận:
1.Lý thiện ác nghiệp báo cho chúng ta thấy những khổ vui của con người hoàn toàn do người tự tạo chứ không phải do một đấng thần linh hay Thượng-đế nào.
2.Con người sống ở đời đều do nghiệp lực chi phối.
3.Con người có quyền thay đổi đời sống của mình, tự tạo một tương lai lý tưởng của mình, nếu tự mình có đủ ý chí cương quyết.
TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ
TINH THẦN TÙY DUYÊN BẤT BIẾN
i.TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ:
1. Thế nào là chấp thủ ?
Chấp hay CHẤP THỦ là nắm chặt, giữ kỹ, không chịu buông ra. Người có định kiến thường hay cố chấp không chịu thay đổi quan điểm, suy nghĩ, thành kiến v.v... của mình, mặc dù thực tế đã chứng minh là thành kiến ấy, suy nghĩ ấy sai lầm.
Có nhiều hình thức chấp thủ: chấp ngã, chấp pháp, chấp thủ tướng v.v...
Chấp Ngã:  cho rằng có cái TA riêng biệt, bất biến, thường còn.
Chấp Pháp:  cho rằng mọi sự vật đều có thực thể riêng biệt, độc lập, trường tồn; không chấp nhận lý duyên sanh, duyên khởi v.v...
Ví dụ 1:  Ngày xưa ông cha ta cho rằng Xướng ca vô loại. Quan điểm này bây giờ không còn đúng nữa: người nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ có tài được xã hội tôn trọng và hoan nghênh; họ rất thành công trong đời. Tuy nhiên vẫn còn một số người không chịu chấp nhận thực tế này, cứ có thành kiến với các cô ca sĩ chẳng hạn, như vậy là cố chấp hay chấp thủ ý kiến của mình, dù đã lỗi thời. 
Ví dụ 2:  Ngày xưa ông cha nói gì thì đứa con bắt buộc phải nghe theo, dù cho đó là vô lý (phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu = cha bảo con chết mà con không chết là con bất hiếu); bây giờ không những điều này đã lỗi thời mà con cái đôi khi còn cho rằng cha mẹ dốt hơn mình, không nghe theo bất cứ gì cha mẹ dạy bảo. Cả 2 thái độ cố chấp của cha mẹ và đứa con như trong ví dụ này đều là chấp thủ, là sai, ắt phải đưa đến bất hòa, phiền não trong gia đình. 
Ví dụ 3:  Hai ví dụ trên đây là "chuyện thế gian". Có người tự cho mình là không còn vướng mắc chuyện thế gian, chỉ lo tu hành (tại gia), nhưng vẫn còn cố chấp. Họ vừa "chấp ngã" lại vừa "chấp pháp". Họ cho rằng chỉ có pháp môn tu của họ là "số 1", còn các pháp môn tu khác là "lu bu, không đi tới đâu". Xin hãy nghe một mẫu đối thoại vui vui sau đây:
-Bà phải tu thiền mới được, tu Tịnh Độ thì bao giờ mới "ngộ" được hở bà? Bà có biết không? Tu thiền là đi máy bay phản lực để về Niết Bàn, còn tu Tịnh Độ là đi bộ, biết đời nào tới (?!!!).
-Tui thì trái lại, bà tu thiền không biết đường đi, cứ loanh quanh lẩn quẩn rồi trở về chỗ cũ không chừng, còn tui thì "chắc nụi", tui một niệm A Di Đà là thẳng tốc tới Tịnh Độ, nhắm mắt lại là có đức A Di Đà tới rước, không còn lo lắng như tu thiền trước đây nữa (!!?).
Thì ra cả hai bà nghĩ rằng mình đang tu, đang không bị vướng mắc vào những chuyện thế gian thường tình mà không hề ngờ rằng mình đã mắc kẹt - kẹt cứng nữa là khác - vào "cái ta" (chấp ngã) và cái "của ta" (chấp pháp). Vậy nếu ta là một Phật tử đang tu tập thì phải thấy rằng TU là để tập buông bỏ (XẢ) không phải để nắm giữ (CHẤP) và đức Phật đã dạy: có tám vạn bốn ngàn phiền não nên cũng có tám vạn bốn ngàn phương pháp đối trị, hay nói cách khác: có tám vạn bốn ngàn pháp môn để tu. Người có muôn ngàn căn cơ khác nhau, tính tình khác nhau, trình độ khác nhau thì cách tu cũng có muôn ngàn cách. Tại sao phải bảo người tu theo phương pháp của mình? Tại sao phải cho rằng pháp môn của mình là "số 1"?
Vậy cho nên chúng ta phải hết sức cẩn trọng để đừng rơi vào chấp thủ mà không tự biết.
2. Tại sao không nên chấp thủ ?
Vì chấp thủ đưa đến tham ái, sân hận và khổ đau.
Thật vậy, như chúng ta đã học về lý nhân duyên sinh, vô thường và vô ngã. Chúng ta biết rằng mọi sự vật đều do nhân duyên sinh, kể cả con người cũng chỉ là một tập hợp gồm 5 nhóm (ngũ uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi các nhân duyên hợp thì có, khi các duyên tan rã thì trở về không; đó là một định lý chắc thật đã được chứng minh. Đã biết trước như vậy thì ta nhìn sự vật một cách bình thản, không để bị vướng vào tham ái, si mê và khi vô thường đến, ta đón nhận với sự kham nhẫn, không quá đau khổ hay sân hận (oán trời, trách đất, thù người v.v...). Người chấp thủ không chịu chấp nhận vô thường. Họ cho thân này vĩnh cửu nên lo o bế thân này, ai động tới thì sân si nổi dậy, chỉ thấy có cái ta của mình. Đối với người thân yêu của họ, họ cũng cho là bất diệt, nên khi người thân mất đi thì trở nên điên cuồng, giận dữ. Họ không biết rằng đâu có ai tránh được vô thường, vô thường đâu có tha cho ai hay chờ đợi ai đâu: già thì chết vì hết tuổi thọ nhưng trẻ cũng có thể chết vì tai nạn, bệnh hoạn. Người không chấp thủ thì biết sinh lão bệnh tử là định luật tự nhiên, có sinh ắt phải có tử, họ không sợ chết đến nỗi trở nên ích kỷ, chỉ lo bản thân mình, hưởng thụ thái quá, chơi bời phóng túng; họ biết tự nhắc nhở mình lo tu tập, làm lành tránh ác vì không biết vô thường đến lúc nào. Ngoài ra họ còn thấy được tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau đối với vô thường (tham sống sợ chết) nên họ trải lòng thương đến mọi người mọi loài, do đó, người không chấp thủ có an lạc tự trong tâm mình.
Như vậy ta thấy rằng: thành kiến, cố chấp là biểu hiện của chấp thủ. Chúng ngăn cản cảm thông, tiến bộ và giải thoát.
3. Tinh thần không chấp thủ là một đặc tính của Giáo dục Phật giáo.
Đức Phật đã dạy: giáo lý của ta như là chiếc bè để qua sông chứ không phải để ôm giữ. Giáo lý là để chúng ta thực hành, tu tập để được an lạc, giải thoát khỏi phiền não khổ đau, chứ không phải chấp chặt (ôm giữ) để gây ra phiền não cho mình cho người. Đức Phật còn nói: khi qua sông rồi phải bỏ chiếc bè, không phải vác chiếc bè trên vai mà đi. Cũng tương tự, Phật Pháp để áp dụng vào cuộc sống, không phải để thành gánh nặng cho hành trình tu tập. Lời dạy này của đức Thế Tôn cũng dạy về hạnh buông xả, không chấp chặt vào bất cứ gì, kể cả giáo lý. Trong Phật Pháp, ta thường nghe lời dặn của đức Phật: hết thảy kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng, cũng có ý nghĩa là đừng chấp chặt vào kinh điển mà cho đó là chân lý, phải hiểu rằng đó là ngón tay chỉ đến chân lý. Như vậy rõ ràng ngay cả giáo lý mà chấp chặt vào đó còn không được huống là chấp ngã hay chấp pháp.
Nhờ ảnh hưởng tinh thần không chấp thủ của đạo Phật, đời Lý Trần đã thực hiện được sự đoàn kết keo sơn của dân tộc, thống nhất Tam giáo (Khổng, Lão và Phật giáo). Những ông quan nhà Trần cũng là những Phật tử hiểu được tinh thần này, bỏ thù nhà để chung lo việc nước (Trần Quang Khải đã quên mối thù nhà hẹp hòi, hợp sức với Trần Hưng Đạo đẩy lui quân giặc xâm lăng nước ta). Ta thấy rất rõ ràng là: ở đâu có không chấp thủ thì ở đó có cảm thông, đoàn kết và thương yêu.
Chúng ta tu tập đạo giải thoát và hướng dẫn đàn em tu tập, vì vậy bất cứ trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng không nên chấp thủ (bảo thủ ý kiến riêng của mình, không tôn trọng ý kiến tập thể, có thành kiến với một huynh trưởng bạn hay với một đoàn sinh v.v... đều là biểu hiện của chấp thủ) vì chúng ta là con Phật và bởi vì tổ chức chúng ta là một tổ chức giáo dục Phật Giáo lấy đoàn kết, hiểu biết và thương yêu làm nền tảng.
ii.  TINH THẦN TÙY DUYÊN BẤT BIẾN. (trích: Phật Học Khái Luận của Thầy Thích Chơn Thiện, trang 100 và 101)
Đây cũng là một đặc điểm của giáo dục Phật Giáo. Tinh thần Tùy Duyên Bất Biến là tinh thần xử sự, hành động uyển chuyển, thích nghi với hoàn cảnh sống: tùy thời, tùy chỗ, tùy người (tùy duyên), miễn là sự uyển chuyển linh động ấy mang lại điều tốt đẹp cho cả mình và người (bất biến). Nói khác đi, hình thức và phương tiện hành động có thể uyển chuyển nhưng dụng ý và kết quả của hành động phải là Thiện và đúng với Phật Pháp. Thái độ này luôn luôn không rời khỏi lòng từ, lòng nhân và luôn luôn được soi sáng bởi trí tuệ hay chánh kiến. Nắm được tinh thần hành động này là nắm được cái trục quay của sự sống. Chiếc áo không quan trọng mà quan trọng là ở tấm lòng, cái Tâm của con người; giữ lòng mình hợp Đạo là ý nghĩa của Bất Biến, linh động hòa mình vào cuộc sống là ý nghĩa của Tùy Duyên.
Đi vào lảnh vực giáo dục và xã hội, cái gọi là Việt Nam hay Việt tính là tinh thần, thái độ sống, thái độ nhận thức, mà không phải là kiểu áo, kiểu tóc, màu áo. Tinh thần độc lập bất khuất là thuộc Việt tính, tinh thần uyển chuyển sống để tồn tại và phát triển là thuộc Việt tính (có thể gọi là tinh thần dung hóa).
Người Việt Nam có thể tiếp thu các nền văn minh phương Tây, nhưng nội dung cần được Việt hóa (chuyển hóa thành cái của Việt Nam) không để đánh mất Việt tính; đây là ý nghĩa của Tùy Duyên Bất Biến.
Ở hành động, tinh thần tùy duyên phá vỡ tính câu nệ cố chấp (chấp thủ) và tinh thần này được đảm bảo giá trị nhờ động cơ của tâm lý hành động và nhờ chủ đích mà hành động nhắm đến. (*)
Tinh thần giáo dục hành động Tùy Duyên Bất Biến là tinh thần rất tích cực, giúp con người của thời đại có nhiều biến chuyển nhanh chóng, có điều kiện rộng rãi để hành động thích nghi với những nhân duyên mới, khai thông được nhiều bế tắc do chủ nghĩa đem lại.
Thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa tương đương với Tinh thần Tùy Duyên Bất Biến là Phương Tiện Thiện Xảo mà Thế Tôn đã vận dụng để dẫn dắt các đệ tử đi dần vào giải thoát. Tinh thần phương tiện lại được làm sống lại ở kinh Pháp Hoa qua phẩm Phương Tiện. Tinh thần giáo dục tùy duyên sẽ giúp học đường soi sáng, chỉ lối hành động tốt cho tuổi trẻ.
iii. Áp Dụng Tinh Thần Tùy Duyên Bất Biến Không Chấp Thủ vào Cuộc sống Hiện Tại.
Trong cuộc sống xa quê hương của chúng ta hôm nay, chúng ta có cơ hội tiếp xúc với những nền văn minh văn hóa khác nhau, khác hơn nền văn hóa Việt Nam. Chúng ta có thể áp dụng những cái hay cái đẹp của họ vào cuộc sống để làm cho cuộc sống trở nên tiện nghi hơn, thoải mái hơn (tùy duyên), nhưng chúng ta cũng không quên đi truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam mình (bất biến) để giữ mình luôn sống trong đạo đức của phương Đông và đặc biệt là nền giáo dục Phật giáo mà chúng ta đã hấp thụ từ giáo dục Gia Đình Phật Tử.
Tóm lại, tinh thần tùy duyên giúp chúng ta sống cởi mở, dễ thông cảm, hiểu biết, tiếp thu những tinh hoa của cái mới đem áp dụng vào cuộc sống của mình để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn bất biến giúp chúng ta gìn giữ và phát huy những nét đẹp Đông phương, cuộc sống nội tâm phong phú cũng như những đức tính nhân hậu, nhẫn nhục, hy sinh v.v... của dân tộc ta. Gần hơn hết, trong gia đình, tinh thần tùy duyên bất biến giúp cha mẹ và con cái xích lại gần nhau hơn: cha mẹ thì bớt câu nệ, cố chấp, không còn khư khư giữ lấy những thói quen bên nhà (tùy duyên) và con cái bớt phóng túng, đua đòi theo phong tục Tây phương, không sống buông lung phóng dật, không vượt quyền cha mẹ, luôn luôn giữ lòng hiếu đạo đối với cha mẹ và thuận thảo với anh chị em v.v... (bất biến). Tinh thần tùy duyên bất biến, do vậy, giúp cho sự hài hòa trong gia đình, lấp đi cái hố sâu ngăn cách giữa hai thế hệ cha mẹ và con cái, nhất là sống tại nước ngoài, hấp thụ những nền văn hóa khác nhau trong cuộc sống dồn dập khó khăn và áp lực từ nhiều mặt đưa tới do sự phát triển nhanh chóng về Khoa học, Kỹ thuật, Kinh tế và về mọi lảnh vực.
(*) Ý nói không lạm dụng danh từ để hành động buông lung phóng dật rồi coi đó là tùy duyên bất biến (vì nếu vậy là biến chất rồi chứ không phải là bất biến)
Nguồn: admin
Số người xem: 1743      In Bài Này     Xem Góp Ý     Góp Ý
    Những Bài cùng Thể Loại :
Bậc Sơ Thiện
Bậc Mở Mắt
Bậc Cánh Mềm
Bậc Chân Cứng
Bậc Trung Thiện
Bậc Hướng Thiện
Bậc Tung Bay
1
Kinh Pháp Cú
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lối và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu
Những người hay khuyên dạy,
Ngăn người khác làm ác,
Được người hiền kính yêu,
Bị người ác không thích.
Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân,
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân.
Pháp hỷ đem an lạc,
Với tâm tư thuần định,
Người trí thường hoan hỷ,
Với pháp bậc Thánh thuyết.
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ làm tên nắn tên,
Người thợ mộc uốn gỗ,
Bậc trí nhiếp tự thân.
Như đá tảng kiên cố,
Không gió nào lay động,
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không dao động.
Như hồ nước sâu thẳm,
Trong sáng, không khuấy đục,
Cũng vậy, nghe chánh pháp,
Người trí hưởng tịnh lạc.
Người hiền bỏ tất cả,
Người lành không bàn dục,
Dầu cảm thọ lạc, khổ ,
Bậc trí không vui buồn.
Không vì mình, vì người,
Không cầu được con cái,
Không tài sản quốc độ,
Không cầu mình thành tựu,
Với việc làm phi pháp,
Vị ấy thật trì giới,
Có trí tuệ đúng pháp.
Ít người giữa nhân loại,
Đến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại
Xuôi ngược chạy bbờ này.
Nhữngg ai hành trì pháp,
Theeo chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khó lạc.
Hãy cầu vui niết bàn,
Bỏ dục, không sở hữu,
Kẻ trí tự rữa sạch,
Cấu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Trang Chủ   P.T Pháp Âm  Âm Nhạc  Gởi Thiệp  Hình Ảnh  Lưu Niệm  Phim Truyện
Copyright@2006 - Trung Tâm Phật Giáo - Chùa Việt Nam
10002 Synott Rd, Sugar Land, Texas 77478 .Điện Thoại (281) 575-0910