Gởi Bài Đăng Trang Chủ Chương Trình Phát Thanh Pháp Âm Quà Tặng Âm Nhạc Gởi Thiệp Điện Tử Hình Ảnh Sinh Hoạt Vài Dòng Lưu Niệm Phim Truyện Phật Giáo và Phim Lễ Hội Tu Viện Hương Nghiêm Web Master
  Đức Phật dạy :  Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng; Quá khứ đã đoạn diệt, Tương lai thì chưa đến; Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây; Không động không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập
      Giới Thiệu
      Tin Tức Sinh Hoạt
      Kinh Tạng
      Luật Tạng
      Luận Tạng
      Phật Học Căn Bản
      Tư Tưởng Phật Học
      Lịch Sử Phật Giáo
      Thiền Học Phật Giáo
      Triết Học Phật Giáo
      Văn Học Phật Giáo
      Giáo Dục Phật Giáo
      Nghi Lễ Phật Giáo
      Từ Bi Foundation
      GĐPT Huyền Quang
      Truyên Phật Giáo
Thống Kê:
 
----! Hiện Tại !----
    Có       Thể Loại
    Và       Chủ Đề
  
Nhập Từ khóa cần tìm:
Xin nhập Tiếng Việt đã có sẳn:
    
Tin Cập Nhật
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 4 THÁNG 8, 2014)
Cảm Niệm Mùa Vu Lan - Báo Hiếu, Đền Ơn
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 4 THÁNG 7, 2014)
Thư Mời Tham Dự Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 3 THÁNG 7, 2014)
MỪNG NGÀY KHÁNH TUẾ VÀ LỄ AN VỊ TÔN TƯỢNG BỒ TÁT ĐỊA TẠNG TẠI TRƯỜNG HẠ PHỔ ĐÀ SƠN TU VIỆN
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 2 THÁNG 7, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 1 THÁNG 7, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 3 THÁNG 6, 2014)
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 2 THÁNG 6, 2014)
Your IP :
23.20.103.100
Country Code:


Country Name:


City:


Region:


Latitude:


Longitude:

      Trang Chi Tiết
Cỡ chữ:  Thu nhỏ Phóng to
Tác giả: TT. Thích Thiện Nhơn
     

Hoa nghiêm suối ngọc thậm thâm
Vườn nai vang dội pháp âm buổi đầu
Linh sơn Diệu pháp vô cầu
Ta la còn mãi nhiệm mầu pháp thân

Thuyết pháp hay giảng pháp là hình thức sử dụng ngôn ngữ chuyển tải giáo pháp của đức Phật. Thông qua phương tiện ngôn ngữ giáo pháp sẽ thâm nhập vào tâm của chúng sanh, vào tri thức của thính chúng, làm phát khởi tín tâm, khơi nguồn trí tuệ, tỏ ngộ chân lý, chứng quả giải thoát.

Thế nên, Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ở thế giới Ta bà này, phương tiện tiếp cận, thể nhập chân lý hữu hiệu nhất là thông qua ngôn ngữ, bằng sự nghe kinh, nghe pháp” (Như lai xuất ư Ta Bà, thử phương chơn giáo thể, thanh tịnh tại âm văn, dục thủ Tam Ma Đề, thật tùng văn trung nhập). Nói khác hơn, như Từ Vân đại sư đồng quan điểm: “Hương thiền gió lộng toả ngàn phương, trăng sáng năm xưa ngập đặm đường, hoa lòng đã nở từ thuở ấy, nương pháp âm về tận cố hương”

Mặc khác, thuyết pháp hay pháp thuyết đều hàm ẩn hai biểu từ của một vấn đề là trình bày pháp phật hay Pháp tánh. Hai biểu từ là: chủ thể và khách thể. Chủ thể chính là pháp sư, giảng sư, khách thể chính là giáo pháp. Ngược lại, nếu là pháp thuyết thì hiện tượng vật lý là chủ thể mà giáo pháp hàm ẩn hay được biểu thị chính là khách thể. Vì vậy, Dù ở phạm vi nào người hay vật cũng đều có một số quy định cơ bản, sự quy định ấy, trong kinh Bát Nhã gọi là : Các vị Bồ Tát khi thuyết giảng Bát Nhã Ba La Mật, không được điên đảo thuyết pháp, mà phải tuần tự thuyết pháp, không sai thánh giáo. Thuyết pháp không điên đảo, tất nhiên phải theo bốn ý nghĩa và bốn mục đích.

A/ Thiện tịnh Pháp luân

Vận chuyển thiện tịnh chánh pháp là thuyết pháp làm tăng trưởng căn lành, tiêu trừ nghiệp chướng của chúng sanh. Vì chúng sanh có đầy đủ nhân duyên mới được thân người, đầy đủ sáu căn, gặp được Tam bảo, nghe được chánh pháp. Do đó sự giảng kinh thuyết pháp là làm khơi dậy thiện căn sẵn có, nuôi lớn căn lành cho thính chúng. Căn lành ấy là gì? Chính là Bồ đề và Níp bàn, là căn lành sâu sắc nhất, cao nhất, nên gọi là tối thắng thiện căn.Đồng thời cũng làm tăng trưởng tự tánh thiện căn là Vô tham, vô sân và vô si, là tự tánh thiện đối lập với ba tâm lý xấu: tham, sân,si. Qua đó, vô tham chính la giới, vô sân chính là Định và vô si chính là Huệ. Kết quả thành tựu Giới Định Huệ. Trong ý nghĩa liên hoàn ấy, Công đức thiện căn cũng thành tựu. Công đức là gì? Công đức pháp thân: Giới pháp thân,định pháp thân, huệ pháp thân, giải thoát pháp thân, giải thoát tri kiến pháp thân. Ngoài ra còn có tự tính công đức. Đó là tự tính hỷ xả, tự tánh duy trì, tự tánh vô sân, tự tính nhất tâm, tự tính tịch tịnh và tự tính sáng suốt. Đó là căn bản của sáu pháp Ba La Mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Như vậy, qua một thời pháp thính chúng được tăng trưởng các căn lành: Tối thắng thiện căn. Tự tánh thiện căn. Công đức thiện căn. Như Khế kinh nói: Nghe Thế Tôn nói pháp, lòng quá đổi vui mừng, lưới nghi đều đã trừ. Quyết định chứng Niết bàn. (Kinh Pháp Hoa)

Nhất là, qua hiệu năng của pháp, thính chúng đoạn trừ được ba sự chướng ngại. Đó là, phiền não chướng: Tham sân si, nghiệp chướng: 10 điều ác, quả báo chướng, thoát ly sanh tử ba điều ác. Hay ít ra người cũng được sanh về thế giới an lành thánh thiện. Nói như thế có nghĩa là, do đoạn trừ ba chướng, chứng ba đức Pháp thân, đoạn trừ phiền não chướng, chứng bồ đề thuộc bát nhã đức. Đoạn trừ nghiệp chướng, được giải thoát đức. Đoạn trừ báo chướng chứng thanh tịnh pháp thân. Như Cổ Đức có nói: Pháp Phật cao sâu rất nhiệm mầu. Hay trừ nghiệp chướng diệt lo âu. Thân tâm thanh tịnh trời xuân sắc. Phước huệ trang nghiêm tỏ đạo mầu. (Pháp trích lục)

B/ Phương tiện Pháp luân

Nếu xem pháp là phương tiện chuyển tải đạo lý, chân lý, là phương tiện vượt qua sông mê biển khổ, thì ngôn ngữ là khả năng diễn đạt chân lý ấy. Như Tăng Triệu nói: Chân lý thì ly khai ngôn ngữ, nhưng nếu không có ngôn ngữ thì chúng sanh không cơ sở y cứ để tu tập và chứng nhập chơn lý. Nhưng phương tiện đó là gì? Như đức Phật dạy: Bát chánh đạo thù thắng, tứ đế lý cao siêu, ly dục là tuyệt diệu, phật nhãn là trên hết (PC: 273) thâm chí kinh Pháp Hoa nói: Trong cõi Phật mười phương, chí có pháp nhất thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói “ Song tất cả đều là phương tiện. Đã là phương tiện thì không được chấp trước, nếu chấp trước thì thành chấp pháp. Như đức Phật nói: “Giáo pháp đức Như Lai ví như ngón tay chỉ mặt trăng, như thuyền bè đưa người qua sông. Khi thấy được mặt trăng thì phải quên ngón tay, lên bờ rồi thì phải bỏ bè”(Kinh Lăng Nghiêm và Viên Giác)

Để minh hoạ thêm, xuyên công thiền sư nói: “Mượn áo bà để đảnh lễ bà, đảnh lễ rồi trả ra cho bà Bóng trúc quét sân trần không động. Bóng trăng xuyên nước, nước không xao”. Tóm lại như kinh A Hàm nói: “Chánh pháp còn phải xả bỏ, huống hồ chi là phi pháp” (Kinh Kim Cang)

C/ Chân Thật - Pháp Luân

Trên bình diện chân lý, thì có hai giai đoạn nhận thức. Đó là chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Chân lý tương đối là tục đế, như nói: con người sanh ra là phải sanh già bịnh chết. Các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh… Thế gian là thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt…Tuy nhiên, ở lãnh vực chân lý tuyệt đối pháp tánh là thường trụ bất sinh bất diệt: Niết bàn là chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh. Các pháp là vô ngã. Vô ngã ấy chính là ngã không chân như và pháp không chân như. Về mặt nói pháp cũng thế. Để chứng minh, như Kinh Bát Nhã nói: Thiên đế Thích nói tôn giả Tu Bồ Đề thuyết giảng kinh bát nhã rất hay, tôn giả Tu Bồ Đề nói: Ta không nói kinh Bát Nhã, thì tôi không nghe kinh Bát Nhã. Tóm lại như Cổ Đức nói: Muôn pháp về không chỗ nương. Chân như vắng lặng hiện chân thường, thấu suốt nguồn tâm không chỗ chỉ. Nước tâm, bóng nguyệt suy lường (Bảo Giác TS)

D/ Vô Vi Pháp Luân

Mục đích nói pháp của Phật là làm cho sinh giác ngộ, thành phật, giải thoát, chứng Niết Bàn. Do đó trong phạm vi tuyệt đối, mục đích ấy là tiêu chí cho mọi sự hướng dẫn tu hành giải thoát. Giải thoát nhưng không có gì là giải thoát. Vì các pháp là vô tướng. Vô tướng là thật tướng các Pháp. Như kinh Bát Nhã nói: “ Thành Niết Bàn có ba cửa để vào. Đó là không giải thoát môn. Do ba cửa này mà chúng sanh vào được thành Niết bàn vô tướng, giải thoát cứu cánh”. Tóm lại, Như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói: Một mai hai băng tuyết tiêu tan, trăm hoa như cũ xuân ngàn đẹp tươi. Trời trong bướm liệng hoa cười, Pháp thân biểu hiện sáng ngời mười phương”.

Kết Luận


Thuyết pháp hay giảng pháp là một nghệ thuật, cũng là một quy trình ấy được định hình theo giáo pháp. Tại sao? Vì thế không theo một quy trình giáo pháp nào thì nó sẽ trở thành điên đảo thuyết pháp và sai thánh giáo. Thế nên đức Phật huấn thị: “ Đối với giáo Pháp phải tin, nghĩa lý thì phải hiểu, chánh pháp thì phải tu, chân lý thì phải chứng” (Kinh Tứ thập Nhị Chương). Nói cách khác phải đầy đủ 16 tâm như kinh Thiện sanh đã đề cập:

1. Nói pháp hợp thời
2. Nói pháp một cách thành tâm
3. Nói pháp theo thứ lớp
4. Nói pháp theo hoà hợp
5. Nói pháp theo Tuỳ theo Nghĩa
6. Nói pháp một cách say sưa
7. Nói Pháp tuỳ ý
8. Nói pháp không khinh thính chúng
9. Nói pháp không trách đại chúng
10. Nói pháp đúng chánh pháp
11. Nói pháp lợi mình lợi người
12. Nói pháp không lộn xộn
13. Nói pháp đúng nghĩa lý
14. Nói pháp chân thật
15. Nói pháp rồi không kiêu mạn
16. Nói pháp rồi không mong đền ơn (Kinh Ưu Bà Tắc)

Tóm lại, ở mặt phổ quát hay cá biệt, thì vấn đề thuyết pháp hay giảng pháp đều thống theo một quy trình nhất định về: Trình bày giáo pháp, chỉ rõ nghĩa lý, hướng dẫn tu tập và định hướng kết quả. Như đức Phật dạy: “ Tông thông thuyết cũng thông, tông thông duyên tự tướng, thuyết thông duyên giáo pháp, khéo nói phân biệt, không chạy theo vọng tưởng” (Kinh Lăng Già).

Bằng phượng tiện ngôn ngữ, hình thức giáo lý, vận dụng chánh trí, phận biệt hợp lý, chuyển động pháp tánh, truyền thông vào tâm thức chúng hội, chuyển hoá tâm thức chúng hội, làm lợi ích, an lạc, giải thoát cho tự thân và tha nhân, cho chúng sanh và thế gian. Thế nên, Luận Đại Trí Độ nói: “ Giáo Pháp của đức Thế Tôn chuyển vận, truyền bá đến đâu đều có thể đoạn trừ những chướng ngại, tà kiến và nghi ngờ, làm cho chúng sanh được an lạc, giải thoát, giác ngộ thành phật.

 

Nguồn: admin
Số người xem: 2179      In Bài Này     Xem Góp Ý     Góp Ý
    Những Bài cùng Thể Loại :
Cảm Niệm Mùa Vu Lan - Báo Hiếu, Đền Ơn
Sức mạnh nội tâm và sự vi diệu của lòng từ
Áp dụng lời Phật dạy trong thời buổi kinh tế khủng hoảng
Đức Đạt Lai Lạt Ma: Hỏi và Đáp
Vai Trò Của Phật Giáo Trong Việc Giáo Dục Thiếu Niên
Chuyện Làng Mai: Có Một Đạo Phật Như Thế
Suy Nghĩ Về Hướng Giáo Dục Cho Tuổi Trẻ
Hư Tâm Học Đạo
Sức Khỏe và Tuổi Thọ Con Người Qua Lăng Kính Phật Giáo
Chữ Hiếu Của Người Xuất Gia
1 2 3 4
Kinh Pháp Cú
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lối và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu
Những người hay khuyên dạy,
Ngăn người khác làm ác,
Được người hiền kính yêu,
Bị người ác không thích.
Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân,
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân.
Pháp hỷ đem an lạc,
Với tâm tư thuần định,
Người trí thường hoan hỷ,
Với pháp bậc Thánh thuyết.
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ làm tên nắn tên,
Người thợ mộc uốn gỗ,
Bậc trí nhiếp tự thân.
Như đá tảng kiên cố,
Không gió nào lay động,
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không dao động.
Như hồ nước sâu thẳm,
Trong sáng, không khuấy đục,
Cũng vậy, nghe chánh pháp,
Người trí hưởng tịnh lạc.
Người hiền bỏ tất cả,
Người lành không bàn dục,
Dầu cảm thọ lạc, khổ ,
Bậc trí không vui buồn.
Không vì mình, vì người,
Không cầu được con cái,
Không tài sản quốc độ,
Không cầu mình thành tựu,
Với việc làm phi pháp,
Vị ấy thật trì giới,
Có trí tuệ đúng pháp.
Ít người giữa nhân loại,
Đến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại
Xuôi ngược chạy bbờ này.
Nhữngg ai hành trì pháp,
Theeo chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khó lạc.
Hãy cầu vui niết bàn,
Bỏ dục, không sở hữu,
Kẻ trí tự rữa sạch,
Cấu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Trang Chủ   P.T Pháp Âm  Âm Nhạc  Gởi Thiệp  Hình Ảnh  Lưu Niệm  Phim Truyện
Copyright@2006 - Trung Tâm Phật Giáo - Chùa Việt Nam
10002 Synott Rd, Sugar Land, Texas 77478 .Điện Thoại (281) 575-0910